Wednesday, August 17, 2011

Tiền tệ ngân hàng





3>tiền tệ ngân hàng





link:http://www.mediafire.com/?fnrymfiiziw





link:http://www.mediafire.com/?lynng0njcqy

Thị trường mục tiêu









thị trường mục tiêu

Size = 2.66 mb



link:http://www.mediafire.com/?l1giezamyv5

Tổng hợp truyện cười tháng 07-2011

Một người đàn ông xuống địa ngục. Quỷ sứ bắt anh ta phải chọn 1 trong 3 phòng để ở. Fòng thứ nhất, anh ta thấy 1 nồi dầu sôi sung sục. Fòng thứ 2, anh ta thấy 1 cái lò lửa thật lớn. Fòng thứ 3, anh ta thấy 1 cô gái cực kỳ xinh đẹp đang liếm những vết thương cho một ông già bị siđa giai đoạn cuối. Anh ta xin quỷ sứ cho ở fòng số 3. Quỷ sứ la lên : “Con nhỏ kia, đi ra ngoài, có đứa thay cho mày rồi



Có 3 chú ruồi gặp nhau. Ruồi Mỹ béo mập. Ruồi Nga khỏe mạnh hồng hào. Ruồi Trung Quốc cánh tả tơi, què chân. Chúng hỏi han nhau.

Ruồi Mỹ kể: - Tôi chỉ cần đậu vào đĩa thức ăn, người ta đổ cả đĩa. Nên tôi thế này là đương nhiên.

Ruồi Nga tiếp: - Tôi đậu vào đĩa thức ăn, họ xắn bỏ chỗ tôi đậu, cũng no đủ.

Ruồi Trung Quốc nối câu chuyện: - Còn tôi đậu vào đĩa thức ăn, họ túm lấy tôi mà mút chùn chụt, hậu quả là thế này đây!





Tướng hỏi:Có Đánh không? Các Bô lão đồng thanh: Đánh Đánh!! Đèn đuốc sáng rực, hết thảy nhãn thần đều lộ hung quang.

Quan quân vớ lấy di động, bấm số, mặt lạnh như tiền, gằn từng tiếng một. Anh ơi! Ghi em con đề ...."





Một chục chị bộ đội, đội một chục hột vịt lộn gặp một bọn lạ mặt chặn lại tại cột điện. Một chục chị bộ đội sợ chạy gọi một chục cụ bộ đội. Một chục cụ bộ đội sợ chạy lại định nện bọn lạ mặt một trận. Bọn lạ mặt sợ , chạy. Một chục bộ đội cụ rượt . Bọn lạ mặt bị nện đập. Một bị xệ ruột, một bị xệ thận một bị xệ mọi bộ phận===> đọc mệt thiệt





Không nên đập con gái dù chỉ bằng một cành hoa

Mà hãy lấy khăn mùi xoa gói thêm.......CỤC GẠCH





Tộc Trưởng một bộ tộc man rợ bắt được 3 người văn minh.



Theo hủ tục lâu đời của bộ lạc này thì khi bắt được kẻ xâm phạm lãnh thổ tù binh sẽ phải nhận một trong hai hình phạt sau:



(Chú ý: Bạn có thể ngừng theo dõi ở đây vì câu chuyện này hết sức man rợ.)





Chương I



Tộc Trưởng hỏi tù binh thứ nhất:



-Mày thích Chết hay thích nhận hình phạt Búng Ch*m ???





Tù binh bập bẹ trả lời:



-Dạ thưa! Con nhận búng ch*m ạ!





Tộc Trưởng sai:



-Bay đâu búng ch*m thằng này 100 cái cho ta!



Sau khi bị búng ch*m, tù binh này đau đớn khôn tả, phải nhờ một người dìu mới có thể đi được.





Chương II



Tù binh thứ 2, Tộc Trưởng vẫn hỏi:



-Mày thích chết hay thích bị búng ch*m ?





Tù binh thứ 2 cũng trả lời "búng ch*m"





Tộc trưởng liền sai :



-Bay đâu búng ch*m thằng này 200 cái cho ta!!!



Sau khi bị búng ch*m, tù binh thứ 2 phải nằm cáng luôn.



Đau đớn đến tột cùng.





Chương III



Đến tù binh thứ 3, Tộc Trưởng cũng hỏi y như vậy.



Sau một hồi suy nghĩ chàng ta quyết định chọn cái chết thay vì sự đau đớn...





"Dạ con... con... muốn chết ạ!"





Tộc Trưởng cười lớn:



-Ha ha! Ngươi đúng ý ta lắm!





Và tên TộcTrưởng tàn ác sai thuộc hạ Búng Ch*m người này cho đến Chết.





có 2 con ruồi đậu trên 1 bãi phân.. bỗng 1 con đánh rắm 1 cái

con kia: mày vô duyên thế.. ko thấy tao đang ăn à.





Chị em dạo này có cái mốt áo sơ mi cài khuy sau lưng, cổ áo cũng ở sau nốt, trông rất ngộ. 1 trong số đó cùng n/y đi xe máy dạo. Chạy được 3 vòng bỗng xe lạc tay lái đâm vào vỉa hè rồi văng lên vườn hoa. Sau khi sơ cứu xong, BS viết: “... có 2 nạn nhân, 1 lái xe bị thương rất nặng ở vùng mặt. Cô gái ngồi sau bị ngoẹo cổ sau ra trước. Đã sơ cứu bằng phương pháp vặn ngược lại. Nạn nhân thét lên một tiếng rất to...”!



Một người Nhật đi tìm tổ tiên của mình. Anh đi khắp thế giới tìm nhưng vô vọng. Cuối cùng anh đến ga xứ Huế ở Việt Nam. Anh nghe người ta nói chuyện: - Mi đi ga chi? - Tau đi ga ni. - Ga ni ga chi? - Ga chi như ri? - Ga như ri mi lo ra đi. - Tau đi nghe mi! Anh mừng rỡ reo lên " Đây chính là tổ tiên của người Nhật"





Trận cãi vã siêu kinh điển

Đã bao giờ bạn nghe được một cuộc cãi vã mà toàn là những câu hỏi, mà không hề có câu trả lời chưa? ^_^

Câu chuyện xẩy ra vào một buổi tối, người chồng về nhà muộn...



- Sao anh về muộn thế?

- Mấy giờ rồi mà cô bảo muộn?



- Anh không có đồng hồ à?

- Cô tưởng cái đồng hồ rẻ rách của tôi không bao giờ chết à?



- Thế sao anh không hỏi người ta?

- Người ta là ai? Cô định ám chỉ người nào?



- Anh tưởng là tôi không biết gì ư? Thế anh lê la ở những xó xỉnh nào mà đến bây giờ mới vác mặt về nhà?

- Cô học ở đâu những cách ăn nói với chồng như vậy?



- Thế anh bảo tôi phải ăn nói với anh như thế nào?

- Cô không thể tìm được lời lẽ có văn hóa hơn một chút hơn so với trình độ của cô hay sao?



- Thế anh tưởng rằng anh có văn hóa lắm ư? Anh đã nốc bao nhiêu bia và rượu rồi?

- Liên can gì đến cô?



- Tại sao anh cứ trả lời câu hỏi của tôi bằng câu hỏi của anh?

- Tại sao lại không?



- Tôi hỏi lại: anh đã nốc bao nhiêu bia và rượu rồi?

- Tiền cô giữ hết rồi, lấy đâu mà bia với rượu?



- Thế thì lương mới lĩnh đâu hết rồi?

- Cô tưởng rằng lương tôi nhiều lắm à?



- Anh đưa hết tháng lương cho con nào vậy?

- Cô cho rằng ngoài cô ra, mọi người phụ nữ khác đều là con cả hay sao?



- Không phải là đĩ thì tại sao lại đưa hết tiền cho nó? Hả...? Hả...?

- Tại sao cô lại tru tréo, gào lên như con điên thế?



- Không tru tréo lên để anh muốn làm gì thì làm à?

- Bơn bớt cái mồm đi có được không?

- Tôi không bớt thì anh định làm gì tôi?

- Cô không thách thức tôi đấy chứ?



- Anh có dám không?

- Đến nước này thì tại sao tôi lại không dám?

Bốp.... --> Mở màn cho một trận chiến khác







THU NHẬP THÔNG TIN KHÁCH HÀNG











Quản Trị Marketing trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ




File Size: file size = 3.38M




http://www.mediafire.com/?lzmzqmdzymd

Những câu đố cực hiểm !!!

Bạn hãy tự kiểm tra qua những câu hỏi sau đây, để xem mình có máu hài hước không nhé!

Quy tắc lịch sự

Tại sao khi lên cầu thang đàn ông bao giờ cũng nên đi đằng trước phụ nữ? Câu trả lời không phải như suy nghĩ “đen tối” của bạn (rằng người phụ nữ mặc váy ngắn nên phải đi sau).

Câu trả lời đúng là: Do mới làm quen nên người phụ nữ không biết người đàn ông sống ở tầng mấy. Do vậy đàn ông phải đi trước để dẫn đường.





Tại sao anh hùng Lương Sơn Bạc hay uống rượu?

Tại sao các anh hùng hảo hán Lương Sơn Bạc trong truyện Thủy Hử của Thi Nại Am lại hay uống rượu đến thế?

Câu trả lời rất đơn giản: Bởi thời kỳ này người ta chưa biết cách làm ra bia!



*

* *



Câu trả lời tức anh ách

Loài cá nào có hai mắt gần nhau nhất?

Đáp án “tức nổ đom đóm” được đưa ra: Loài cá có hai mắt gần nhau nhất là loài cá… nhỏ nhất!



*

* *



Người Eskimo

Họ rất giỏi săn bắn nhưng không bao giờ săn chim cánh cụt. Tại sao vậy?

Rất đơn giản, người Eskimo sống ở Bắc Cực còn chim cánh cụt sống ở Nam Cực.



*

* *



Bài toán cắt táo

Có một bài toán dành cho phụ nữ như sau: Nếu ta cắt quả táo ra làm 4 phần bằng nhau, mỗi phần trong số đó được gọi là một phần tư (1/4). Tương tự như vậy, nếu cắt quả táo ra làm 8 phần bằng nhau thì mỗi phần sẽ được gọi là một phần tám (1/8). Vậy sẽ gọi là gì nếu ta chia nhỏ quả táo ấy ra 100 phần bằng nhau?

Câu trả lời: Đó là Món táo dầm!



*

* *



Làm thế nào để sống sót?

Hãy tưởng tượng bạn đang ngồi trên một cái thuyền. Đột nhiên, cái thuyền bị thủng và bắt đầu chìm mà dưới sông lại đầy cá sấu. Làm thế nào để bạn sống sót bây giờ?

Trả lời: Rất đơn giản! Bạn hãy ngừng tưởng tượng đi!



*

* *



Màu mắt người lái xe

Bạn đang lái một chiếc xe bus. Có 4 người lên xe, 3 người xuống xe. Rồi 8 người lên xe và 10 người xuống xe. Tiếp đó 6 người lên xe và 2 người xuống xe. Câu hỏi đặt ra là: Màu mắt của người lái xe bus là màu gì?

Trả lời: Đơn giản, chính là màu mắt của bạn. Còn nhớ ai đang lái xe bus không?



*

* *



Chôn người

Nếu một người sống ở miền Bắc nước Mỹ mà bạn lại chôn người đó ở miền Nam nước Mỹ thì sẽ là phạm pháp. Tại sao?

Trả lời: Đơn giản, vì ai cho phép bạn chôn một người đang sống?



*

* *



Hỏi thế mà cũng hỏi

Trước khi người ta khám phá ra đỉnh Everest thì đỉnh núi cao nhất thế giới là đỉnh nào?

Trả lời: Vẫn là đỉnh Everest thôi. Khi người ta chưa khám phá ra nó thì nó vẫn ở đấy!



*

* *



Gà có trước hay trứng có trước?

Lâu nay hết thảy chúng ta đều luẩn quẩn với câu hỏi gà có trước hay trứng có trước. Gà có trước vì gà đẻ ra trứng. Trứng có trước vì trứng nở ra gà. Vậy thực ra là trứng hay gà có trước? Trả lời: Trứng tất nhiên phải có trước, bởi vì bạn nhớ không, từ thời cổ đại thì khủng long đã đẻ ra trứng. Thế là có trứng rồi! Còn loài gà mãi sau này mới xuất hiện cơ mà.

Trả lời: À... mà câu hỏi là trứng gà hay trứng gì nhỉ?



*

* *



Dành cho phụ nữ

Tại một cuộc thi giả tưởng tìm người lãnh đạo thế giới. 3 ứng viên được đưa ra với các đặc điểm như sau:

- A: Không chung thủy, nghiện thuốc lá, uống 8... 10 cốc rượu mỗi ngày.

- B: Từng bị đuổi việc 2 lần, thường ngủ nướng đến tận trưa, uống 1/4 chai rượu mạnh mỗi sáng.

- C: Được đánh giá là người tài giỏi về quân sự, là người ăn chay, không hút thuốc, ít bia rượu, không có scandal nào về tình ái.

Bạn sẽ chọn ai? A, B hay C? Xong chưa? Còn bây giờ hãy xem bạn đã chọn ai ứng với 3 vị trên:

A: Franklin Roosevelt

B: Winston Churchill

C: Adolph Hít Le





Bức thư gửi ông Điện Lực

Con là một trong hàng triệu đứa con ngoan ngoãn và

hiếu thảo của cha đây. Trong hợp đồng, cha đã có nhã ý gọi chúng con

bằng hai từ "quý khách" nhưng từ lâu, trong sâu thẳm của lòng con, con

chỉ muốn tự nhận mình là con của cha.



Tháng này cha bảo con đóng 1 triệu đồng thì con không

dám đưa thiếu 999 ngàn đồng; tháng sau cha bảo cúp điện 4 ngày thì con

không dám nài nỉ cha bớt xuống còn 3 ngày rưỡi. Con không nộp tiền thì

cha cắt điện, hoặc gởi thư rầy rà; con nộp tiền đủ thì thỉnh thoảng cha

lại có quyền quên, đến hỏi con: "Biên lai điện tháng rồi của mầy đâu?".

Bằng mọi giá, con phải xuất trình cho được biên lai ra thì cha mới hết

nghi ngờ cái trinh tiết của con.



Cha ơi!



Đất nước ta còn khó khăn, lượng điện sản xuất ra không

đủ đáp ứng cho nhu cầu dùng điện. Chúng con hiểu rất rõ điều ấy. Ngay

đến những nước giàu có, thỉnh thoảng họ cũng cúp điện cho vui, huống

chi đất nước chúng ta vốn thuộc vùng nhiệt đới, mùa khô hạn nước về

không đủ quay các guồng máy thủy điện, chuyện cúp điện là chuyện đương

nhiên. Thế nhưng thưa cha, lắm khi cha cúp điện với một cách làm không

giống ai, cha à!



Đời này có rất nhiều tờ báo, đài truyền hình, đài phát

thanh sẵn sàng làm cái loa thông tin cho lịch cúp điện của cha. Thế

nhưng, có lẽ cha không thương chúng con, nên việc loan báo rộng rãi đối

với cha hình như là không cần thiết. Không phải các con lơ đãng không

nghe lệnh cha cúp điện mà chính vì không biết tìm ra lệnh ấy ở đâu. Bất

nhơn hơn nữa là cha cúp đột xuất, cúp cái rụp nói theo cách nói của Tuổi Trẻ Cười, khiến chúng con không biết nơi nào mà lần.



Thí dụ cha bảo cúp phường Đông Hưng Thuận, nhưng cha

cao hứng chơi luôn qua phường Tân Thới Nhất. Thí dụ cha cúp đường dây,

cúp thay cầu chì, cúp duy tu, cúp dựng trụ, cúp vì mưa, cúp vì cháy nổ

bình đèn đâu đó.



Phải nói cha là một người oai hùng, tuy không tham dự

các giải World Cup hay Euro, nhưng những cái cúp của cha thì nhiều hơn

tất cả những nhà vô địch. Mà cha cúp cũng rất kỹ, cúp biệt mù sơn dã từ

6 giờ sáng đến 7 giờ rưỡi tối. Cha ơi, ban ngày có ánh sáng mặt trời

không nói làm chi, chứ ban đêm thiếu ánh sáng, con thường hay đút cơm

vào lỗ mũi. Hầu như ai cũng muốn nấu cơm vào lúc sáu giờ chiều cha à.

Hoặc giả là cha muốn chúng con lãng mạn như các cặp tình nhân phương

Tây, ăn cơm nên đốt đèn cầy cho đời thêm thú vị?



Đã thế, khi có điện lại, con đã từng bị mừng hụt. Đùng

một cái điện sáng lên, máy bơm nước chạy, tủ lạnh vi vu, tivi hét

tướng, máy cưa kêu re re. Bởi đang bị hạn mà gặp mưa rào, nên nhà nào

nhà nấy tích cực dùng điện thay cho giờ cúp điện, nên nổ bình đèn, cháy

cầu dao, cháy đường dây. Điện lại cúp cái rụp! Thử hỏi mâm cơm đêm có

gì hắc ám hơn không? Con bảo đảm, trong báo cáo gia tăng dân số, sinh

thêm con thứ ba có phần trách nhiệm lớn của cha. Nửa khuya mà cha cúp

điện thì ai mà ngủ nổi? Mà ngủ không được, thức cũng không có việc chi

làm thì người ta làm cái chi?



Thưa cha!



Cha đã lỡ gọi con là "quý khách", một cách gọi khách

sáo, đôi khi nghe cũng sương sướng cái lỗ tai. Thế nhưng cái cách cha

làm với chúng con thì cứ y như hàng triệu vị khách quý ấy là con, là

cháu trong nhà của cha. Nghĩa là cha ban cho sao thì chịu vậy, cha

không đóng cầu dao thì chúng con tối, cha đóng cầu dao không chừng cũng

tối.



Nếu là ở nước khác, khách hàng sẵn sàng kiện cha ngay.

May mà cha ở nước ta, chúng con ngoan ngoãn không kiện cáo. Thế nhưng,

dẫu chúng con thông cảm thông cúm cha đến bao nhiêu đi nữa, thì xin cha

cũng nhớ cho là mình đã gia nhập WTO rồi, cha nên chơi cho đúng bài

bản, chứ chơi dài dài mửng này, sẽ có ngày có con đi kiện cha đó!



Đội ơn cha! 



Lần đầu được tắm tiên

Một chú bé được bố mẹ đưa đi "tắm tiên". Đến bãi tắm, thấy một chị có bộ ngực đồ sộ, chú hỏi:

- Sao của chị kia to vậy?".

Bà mẹ xấu hổ:

- Con đừng nhìn, những người như vậy là những người rất đần. Chú bé lại chỉ vào "của quí" một ông hỏi:

- Sao của chú kia to vậy? Bà mẹ đỏ mặt:

- Những người đó rất ngu, con đừng nhìn. Một lúc sau ko thấy chồng đâu, bà mẹ bảo chú bé đi tìm. Chú đi một hồi rồi trở về nói với mẹ:

- Con thấy bố đang nói chuyện với một cô rất đần, càng nói thì trông bố càng ngu!!







Mày phải chết

Hai thằng bạn đi dạo với nhau trong rừng, một thằng buồn đi tiểu bèn tè vào một bụi cây, chẳng ngờ bị một con rắn cắn vào phần quan trọng. Thằng bạn cấp tốc moi handphone gọi ngay cho Bác sĩ :



- Alo, Bác sĩ ơi bạn tôi bị rắn cắn, tôi phải làm gì để giúp bạn tôi đây ?



Bác sĩ:- Ồ , thật là nguy hiểm, các anh đang ở đâu ? Tôi sẽ đến ngay, nhưng việc cần làm tức khắc là anh phải hút nọc độc nơi vết rắn cắn để sơ cứu đã nếu k sẽ muộn mất...



Nghe xong, thằng bạn chỉ im lặng.

Thằng kia sốt ruột, hỏi :

- Thế nào ? Bác sĩ nói gì mày ?

- Bác sĩ nói là ...mày phải chết !







Tiền là trên hết



Có hai anh chàng nọ là bạn thân với nhau, mMột ngày đẹp trời hai người cùng rủ nhau ra biển chơi.



Một người lay vai bạn:



- Ê mày thấy tấm biển kia không? Cứu người chết đuối được thưởng 100 đô kìa. Tao giả bộ chết đuối, mày cứu tao lên rồi lấy tiền chia nhau nha.



Nói xong, anh ta bèn nhảy ngay xuống biển. Được một lúc hụt hơi mà không thấy bạn cứu, anh ta la hoảng:



- Ê, sao không cứu tao, sắp chìm rồi cha nội!.



Người bạn trên bờ trả lời:



- Tao còn chờ, mày không thấy tấm biển khác có ghi: Vớt xác người chết đuối được thưởng 500 đô à?







Truyện cười hay nhất các nước !!!

Truyện cười hay nhất nước Anh:



Một phụ nữ ôm đứa con nhỏ bước lên xe buýt. Thấy đứa trẻ, lái xe hét lớn: “Chu cha! Đây có lẽ là đứa trẻ xấu nhất mà tôi nhìn thấy”. Người phụ nữ rất bực mình, liền đi thẳng đến cuối xe ngồi xuống và phân trần với hành khách ngồi cạnh: “Cha lái xe thật thô lỗ, xúc phạm tôi...”. Ông hành khách liền nói vẻ đồng tình: “Thật chẳng ra sao cả, chị đưa tôi ẵm hộ cái con khỉ này, lên mà mắng cho anh ta một trận”.



Truyện cười hay nhất nước Mỹ:



Giắc và Tô-ny đang đánh gôn trên sân. Giắc đang chuẩn bị đánh bóng thì thấy một đám tang bên kia sân, liền chạy lại, vứt vợt xuống đất, bỏ mũ, lim dim đôi mắt cúi đầu cầu khấn. Tô-ny thấy vậy thì rất cảm động mà rằng: “Đây có lẽ là sự việc làm tôi cảm động nhất... và cao thượng nhất mà tôi gặp”. Giắc liền trả lời tỉnh khô: “Ồ, cuối cùng thì tôi và nàng cũng lấy nhau được tới 35 năm...”.



Truyện cười hay nhất Ca-na-đa:



Trong lần đưa người lên vũ trụ lần đầu của cơ quan vũ trụ Mỹ, họ đã phát hiện chiếc bút bi do không có trọng lực nên không dùng được. Để giải quyết vấn đề này, các nhà khoa học Mỹ đã phải dùng tới 10 năm, tốn kém tới 12 tỷ USD để cho ra đời chiếc bút bi cải tiến dùng được trong điều kiện không có trọng lực. Trong khi đó người Nga liền dùng bút chì thay cho bút bi mà vẫn có được hiệu quả tương tự.



Truyện cười hay nhất Ô-xtrây-li-a:



Một phụ nữ cuống cuồng chạy vào phòng khám hét lớn: Bác sĩ, khám hộ tôi ngay, sáng nay khi soi gương tôi thấy tóc tôi khô xác, da nhăn nheo, mắt đỏ ngầu, lõm sâu trông như một cái xác không hồn, trắng bệch. Bác sĩ, hãy cho tôi biết tôi bị bệnh gì?

Bác sĩ khám vài phút cho cô, liền nói: “Thưa cô, tôi có thể bảo cho cô biết mắt cô vẫn tốt nguyên...”.



Truyện cười hay nhất nước Đức:



Người chỉ huy để ý thấy gần đây một chiến sĩ có hành động không bình thường: Tha thẩn nhặt những mảnh giấy trên bãi tập lên xem rồi lẩm bẩm: “Không phải tờ này, không phải tờ này...”, rồi vứt trở về chỗ cũ. Nghi là người lính bị bệnh tâm thần, chỉ huy liền cho anh đi khám ở bác sĩ thần kinh. Bác sĩ khám thấy anh lính bị bệnh thần kinh liền cấp giấy kiến nghị được thoái ngũ. Cầm tờ giấy kiến nghị trong tay, anh lính tươi cười hét lớn: “Đúng là tờ này rồi, đúng là tờ giấy này rồi...”.







Những bài văn bất hủ của học sinh cực vui

Đề: Bình luận câu tục ngữ "Uống nước nhớ nguồn".



Uống nước nhớ nguồn là khuyên chúng ta phải nên tiết kiệm nước, khi tắm phải từ từ, không được xối ào ào...





Đề: Tả về người bà của em.



Bà nội em năm nay đã ngoài sáu mươi. Người bà to béo. Tóc bà lấm tấm bạc. Răng bà đều như hạt bắp có điểm vàng.





Đề: Tả con đường tới trường.



Con đường đến trường thân yêu của em, em đi mỗi ngày. Đường rất xa khi em đi bộ nhưng lại rất gần khi mẹ chở em bằng xe Honda.





Đề: Tả con sông quê em.



Con sông Hàm Luông quê em ngày ngày tấp nập thuyền buồm đi đánh cá. Trên dòng sông này đã có rất nhiều trẻ em chết đuối vì đi tắm sông mà không biết bơi và không xin phép ba mẹ.





Đề: Tả bố em.



Nhà em có nhiều người nhưng em yêu bố nhất. Bố em 43 tuổi. Bố rất cao lớn. Mỗi lần bố ôm em, em chìm trong bóng tối.





Đề: Tả mẹ em



mẹ em là người hay lo lắng, vì vậy mỗi khí ông bà lên mẹ đều đi mua cơm hộp.





Đề: Tả con gà.



Nhà em có một con gà trụi lông, to bằng cái ruột phích. Ngày ngày nó nhảy vào chuồng lợn để ăn cám lợn .





Đề: Tả người ông của em.



Nhà em có nuôi một ông nội. Thứ mà ông nội quý nhất chính là cái mũ phớt. Cái mũ ấy mỗi lần ông đội giống y như cái mâm lật ngược.





Đề: Tả nhà của em



Nhà em màu xanh, bên cạnh là quá cơm văn phòngcó cái biển to.

Bác nông dân có mái tóc bóng mượt như dầu nhờn Castrol, mũi con lợn to như ổ phích cắm điện Liên Xô… là những bài văn miêu tả chân thực của lứa tuổi học trò.





Đề: Tả con lợn.



Nhà em có nuôi một con heo có bộ lông vàng óng, hai tai to như hai lá mít, hai mắt to như hai hạt điều, cái đầu to bằng trái dừa khô, và cái bụng to bằng chiếc thùng gánh nước…



Đề: Tả về người bạn thân của em.



Em có một người bạn rất thân tên là Trung Hiếu. Mắt bạn đen như hai hột na. Da bạn trắng như tuyết. Tóc bạn đen như gỗ mun. Môi bạn đỏ như son. Hàng ngày, em với bạn thường rủ nhau đi học.



Đề: Em hãy phân tích câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”



Câu tục ngữ uống nước nhớ nguồn cho ta thấy nước ta có nguồn nước rất dồi dào. Nước rất quan trọng trong đời sống chúng ta: cây cối cũng cần nước, ví dụ: đậu bắp, động vật cũng cần nước, ví dụ: trâu, bò, gà, vịt… Không có nước thì con người sẽ chết. Câu tục ngữ uống nước nhớ nguồn làm em liên tưởng đến câu tục ngữ “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” nghĩa là ăn quả rồi phải nhớ giữ lại hạt để trồng cây mới.



Đề: Tả con gà.



Nhà em có nuôi một con gà rất to và đẹp, nó nặng chừng 10 kg, bụng to như cái chậu, mỏ nó như hai hạt trấu chắp lại….



Đề: Tả con voi.



Chủ nhật tuần vừa rồi em được mẹ em cho đi chơi công viên, ở đó có rất nhiều con vật nhưng em thích nhất là con voi. Con voi có cái tai như cái chổi, cái mồm như cái máy tính laptop của mẹ em.



Đề: Tả con gà trống.



Mẹ đi chợ mua cho em một con gà trống con. Em rất thích. Sau mấy tháng chăm nom chú gà, bây giờ nhà em có thêm được 5 chú gà con.



Đề: Hãy đặt câu có từ “đỡ đần”.



Vì em chăm học nên em đỡ đần.



Đề: Tả cô giáo em.



Cô giáo em cao 1m3, dáng người to ngang trông rất vừa vặn… Mỗi khi chúng em lên nộp bài, mắt cô sáng lên như 2 cái đèn pin.



Đề: Tả cây chuối.



Trước cửa nhà em có một cây chuối. Rễ của nó cắm sâu xuống lòng đất. Sáng nào em cũng vun đất cho cây, trưa em vun đất cho cây, chiều em cũng vun đất cho cây. Quả của nó sum suê, rụng cả xuống đất.



Đề: Tả con bò.



Giữa trưa hè nóng nực, em thấy con bò kéo xe trên phố, mồ hôi chảy ròng ròng. Em học tập con bò tính cần cù chăm chỉ.



Đề: Tả cây bàng.



Sân trường em có một cây bàng trồng đã 3 năm cao 3 mét, nặng 2 kg, tán xoè như một cái ô.



Đề: Tả mái đình.



Hôm nay cô giáo cho chúng em về làng quê chơi, đầu làng có cái mái đình cong cong, khi chúng em đến mái đình rung rinh chào đón chúng em.



Đề: Tả về người mẹ.



Mẹ em rất dễ thương, mắt mẹ em như hai hòn bi ve, mái tóc mẹ em đen nhánh, má mẹ em mũm mĩm.



Đề: Tả con đường đến trường.



Nhà em cách trường không xa, hàng ngày em đều đi trên con đường nhỏ ấy. Những ngày nắng thì không sao nhưng cứ đến mùa mưa thì nước ngập lên tận bẹn.



Đề: Tả vườn rau muống.



Nhà em có một vườn rau muống. Chiều chiều mẹ em lại bắc thang lên hái lá về nấu canh.



Đề: Tả con gà.



Con gà nhà em mới nở trông đến là xinh đẹp, cái đầu nó to như một nắm tay, còn mình nó to như hai nắm tay.



Đề: Tả một thắng cảnh.



Tuần trước, bố mẹ em cho em đi thăm rừng Cúc Phương. Rừng Cúc Phương toàn là hoa cúc phương.



Đề: Tả chú bộ đội.



Cạnh nhà em có một chú là bộ đội. Năm nay chú đã 20 tuổi đời. Chú luôn đeo súng ngắn bên mình, mỗi khi ngồi xuống, khẩu súng của chú lại chìa ra trông rất oai hùng.



Đề: Đặt câu có từ “tập thể”.



Sáng nào em cũng tập thể dục.



Đề: Tả cô giáo.



Cô giáo em trạc ngoại tứ tuần. Người cô nhỏ nhắn khuôn mặt trái xoan, mỗi khi cô giảng bài bàn tay cô ngo ngoe thật mềm mại. Cô hay giảng bài về thời các cụ ngày xưa và mở đầu bao giờ cũng là “các cụ ngày xưa nói”.



Đề: Tả con lợn.



Con lợn nhà em rất đẹp, có cái mũi to như cái ổ phích cắm điện Liên Xô.



Đề: Em hãy giải thích câu tục ngữ “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.



Câu tục ngữ nói lên sự dã man của bọn giặc cướp, khi đã tràn vào làng mạc, nhà cửa thì không cứ đàn ông, mà cả đàn bà, trẻ em chúng cũng đánh đập, hành hạ. Câu tục ngữ trên nhằm kêu gọi nhân dân đánh đuổi quân giặc xâm lược.



Đề: Tả về cơn mưa rào.



Chiều qua, trời đang nắng chang chang bỗng nhiên sân nhà em đổ cơn mưa rào. Tiếng mưa rơi bập bùng phập phồng nên bố em hát: “Trời mưa bong bóng phập phồng. Em đi lấy chồng để khổ cho anh”.



Đề: Tả về bác nông dân.



Bên cạnh nhà em có một bác nông dân tên là Xuyến. Bác có làn da trắng như trứng gà bóc, mái tóc bác bóng mượt như dầu nhờn Castrol. Mỗi buổi sáng bác thường hay dắt trâu ra ngoài đồng, tiếng bước chân bác và chân trâu nghe rổn rảng.



Xem thêm tại: http://www.nhincuoi.com/truyen-vui-cuoi/nhung-bai-van-bat-hu-cua-hoc-sinh-cuc-vui-55947#ixzz1VLpAHIg9



Em về kẻo trời mưa









Phần mềm kế toán TONY ACCOUNTING .NET



Công ty Phần mềm TONY SOFTWARE chuyên sâu về phần mềm kế toán, phần mềm quản lý. Chúng tôi giúp khách hàng nâng cao hiệu quả quản lý, chuyên nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh và gia tăng giá trị cho khách hàng. Chúng tôi nỗ lực mang lại lợi ích tối đa cho quý khách bằng sản phẩm chất lượng cao, công nghệ mới, hỗ trợ nhanh chóng, lâu dài.



Sản phẩm của Tony Software:



- Phần mềm kế toán Tony Accounting;



- Phần mềm quản lý bảo hành, sửa chữa Tony Warranty;



- Giải pháp tích hợp quản trị doanh nghiệp(Groupware): quản lý quan hệ khách hàng – quản lý công việc – quản lý tài liệu;



- Phát triển phần mềm theo yêu cầu của khách hàng;



- Tư vấn giải pháp công nghệ thông tin.





Phần mềm kế toán Tony Accounting



Tony Accounting được xây dựng dựa trên các chuẩn mực, nghị định, thông tư mới nhất về kế toán tại Việt Nam. Phần mềm luôn được tối ưu hóa, bổ sung và nâng cấp. Quan điểm của chúng tôi khi xây dựng phần mềm Tony Accounting là “đơn giản nhưng quản trị hay”. Phần mềm sử dụng nền tảng công nghệ .Net mới nhất, hệ quản cơ sở dữ liệu SQL Firebird. Với Tony Accounting công việc kế toán trở nên “đơn giản, gọn nhẹ và thú vị hơn”. Phần mềm tuân thủ đầy đủ theo Quyết định 15/2006, Quyết định 48/2006, Nghị định 51, Thông tư 28/2011.



Phần mềm phù hợp với mọi loại hình doanh nghiệp: thương mại, dịch vụ, sản xuất, xây dựng; thích hợp cho các cá nhân sử dụng làm dịch vụ kế toán thuế. Quý khách hoàn toàn tự tin vào kết quả sổ sách kế toán với TONY ACCOUNTING.



Để xem giới thiệu chi tiết hơn về các tính năng của Tony Accounting, mời quý khách truy cập:





Tony Accounting hoạt động như thế nào?



Đơn giản. Dung lượng bộ cài đặt chỉ 50MB. Tải và cài đặt rất đơn giản. Dễ sử dụng, hoàn toàn có thể tự học. Cài 01 máy làm được nhiều công ty, nhiều hệ thống sổ theo nhiều quyết định kế toán.



Chạy nhanh. Phần mềm chạy nhanh, ổn định, đã kiểm thử với tập dữ liệu danh mục số lượng lớn. Bấm vào là thấy ngay là tiêu chuẩn mà chúng tôi đưa ra để tiết kiệm thời gian làm việc của người sử dụng.



Tự động. Tự động hóa các nghiệp vụ, tự động lên báo cáo với nhiều báo cáo đa dạng và đầy đủ. Có nhiều tùy chọn để phù hợp với nhiều người dùng. Kiểm soát và tự tìm lỗi người dùng, lỗi nghiệp vụ.



Mở rộng. Phần mềm luôn được nâng cấp theo các quy đinh mới nhất của Bộ Tài chính. Chúng tôi nỗ lực không ngừng nâng cao chất lượng phần mềm, tối ưu hóa từng chức năng.



Tiện ích. Xuất dữ liệu qua phần mềm HTKK 3.0. Tất cả báo cáo xuất ra được Excel và các định dạng khác: HTML, hình ảnh, PDF. Phân quyền và bảo mật cao. Và nhiều tiện ích hay chờ Quý khách khám phá sử dụng.



Định khoản linh hoạt và tự động. Tự động hóa các nghiệp vụ kế toán: khấu trừ thuế GTGT, khấu hao tài sản cố định, phân bổ chi phí trả trước, tập hợp chi phí giá thành, kết chuyển doanh thu, kết chuyển chi phí, bút toán lãi lỗ.



Đầy đủ phần hành. Kế toán tiền mặt, kế toán tiền gửi, bán hàng-doanh thu, mua hàng-công nợ, nhập xuất tồn kho, tài sản cố định, chi phí trả trước, kế toán tổng hợp, thuế GTGT, ...



Kế toán sản xuất. Tính giá thành chi tiết theo sản phẩm, hợp đồng, đơn hàng, công trình và công đoạn theo nhiều phương pháp khác nhau. Phân tích giá thành theo khoản mục và yếu tố.



Tự chọn. Cho phép tùy biến chức năng. Dùng máy đơn không cần cài bộ SQL, chạy tốt qua mạng LAN, Internet. Cho phép tự tạo nhiều bộ sổ sách rất phù hợp để sử dụng phần mềm vào dịch vụ kế toán.

E-mail Bản in FAST ra mắt phiên bản Fast Business 3.2 và Fast Financial 3.2







Ngày 4-8-2011 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Sản phẩm của FAST (FRD) đã hoàn thành nâng cấp 2 sản phẩm Fast Business và Fast Financial. Sản phẩm nâng cấp có ký hiệu phiên bản là Fast Business 3.2 và Fast Financial 3.2.



Đây là lần nâng cấp sản phẩm định kỳ hàng năm của FAST.



Trong phiên bản mới đã bổ sung 2 tính năng quan trọng sau:



1. Thêm phân hệ xử lý phân tích số liệu trực tuyến OLAP (Online Analytical Processing)



2. Thêm chức năng “Business Center” gồm một màn hình với các thông tin về nhanh về doanh thu, công nợ, chi phí…





Ví dụ về màn hình phân tích dữ liệu trực tuyến OLAP







Ví dụ về màn hình Fast Business Center - thông tin nhanh về tình hình kinh doanh trong doanh nghiệp



Ngoài 2 tính năng quan trọng trên, trong phiên bản mới còn cập nhập nhiều tính năng khác như:



1. Cập nhật thay đổi mẫu biểu báo cáo mới theo thông tư 28/2011/TT-BTC liên quan đến thuế GTGT, thuế TNDN và TNCN.



2. Thêm phân hệ cho phép hỗ trợ kê khai thuế trực tiếp từ phần mềm, in các báo cáo có mã vạch, mà không cần thiết phải thông qua phần mềm HTKK thuế của Tổng cục Thuế.



và hơn 30 báo cáo, các tiện ích giúp người sử dụng làm việc thuận tiện hơn, nâng cao tốc độ nhập liệu, xử lý số liệu…





Phần mềm kế toán EFFECT-Small miễn phí dành cho doanh nghiệp nhỏ!



Phần mềm kế toán EFFECT-Small miễn phí dành cho doanh nghiệp nhỏ!



Nếu như trước đây, Công ty Cổ phần Phần mềm EFFECT tập trung vào các dòng sản phầm phần mềm kế toán Customize (sửa đổi theo yêu cầu) dành cho các doanh nghiệp (DN) vừa và lớn thì hiện nay, nhận thấy nhu cầu sử dụng phần mềm kế toán của các DN vừa và nhỏ, EFFECT đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra thị trường các phiên bản phần đóng gói dành cho DN vừa và nhỏ trong đó có phần mềm miễn phí EFFECT-Small.



Được thiết kế chuẩn hóa miễn phí cho các doanh nghiệp nhỏ, EFFECT-Small là phần mềm đơn giản nhất, dễ sử dụng nhất với các ưu điểm sau:



Miễn phí hoàn toàn



Nhằm mục đích hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ, đồng thời mở rộng thị trường nâng cấp lên các dòng sản phẩm kế toán EFFECT cao hơn sau này, EFFECT-Small là dòng sản phẩm chuyên nghiệp và được miễn phí hoàn toàn trên thị trường. Ngoài việc miễn phí bản quyền sử dụng phần mềm, khách hàng còn được tư vấn hỗ trợ miễn phí từ xa qua đường điện thoại và chat online.



Đơn giản và dễ sử dụng



EFFECT định hướng xây dựng EFFECT-Small sẽ là sản phẩm phần mềm kế toán đơn giản nhất trong tất cả các phần mềm kế toán đóng gói trên thị trường. Số lượng màn hình giao diện ít, rõ ràng, mạch lạc, thao tác sử dụng đơn giản là những đặc điểm phù hợp với đối tượng người dùng mới bắt đầu làm quen sử dụng phần mềm kế toán.



Ngoài ra EFFECT-Small được trang bị công cụ EFFECT-Interactive Help, là công cụ hướng dẫn trực quan, tương tác giữa phần mềm và người dùng, giúp người dùng có thể tự học sử dụng phần mềm nhanh chóng mà không cần người hướng dẫn hoặc tham gia lớp đào tạo tập trung.



Đáp ứng hoàn toàn chế độ kế toán theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC



Hệ thống nghiệp vụ đầu vào, hệ thống báo cáo đầu ra được xây dựng, chuẩn hoá và kiểm nghiệm kỹ càng theo quyết định 48/2006/QĐ-BTC. Nếu doanh nghiệp của bạn nhỏ với dữ liệu phát sinh không quá 400 bút toán/30 ngày thì bạn có thể hoàn toàn yên tâm sử dụng EFFECT-Small cho công việc kế toán của mình. Ngoài ra phần mềm còn có những báo cáo quản trị cho phép bạn phân tích số liệu hình cây để dễ dàng có được các thông tin thống kê như: Doanh số bán hàng theo khách hàng, theo mặt hàng, Chi phí quản lý theo khoản mục...

EFFECT nhận giải Sao Khuê 2011



Tối qua ngày 9/6, EFFECT đoạt danh hiệu “Phần mềm ưu việt 4 sao” cho cả 3 nhóm sản phẩm tại Lễ công bố và trao Danh hiệu Sao khuê 2011



Lễ công bố Danh hiệu Sao Khuê 2011 đã được tổ chức vào tối ngày 9/6/2011 trong Gala Dinner chào mừng Hội nghị lãnh đạo CNTT – TT Việt Nam tại Hà Nội. Đây là sự kiện được giới công nghệ thông tin trong nước chờ đợi nhất trong nhiều tháng qua. Đã có 56 sản phẩm, dịch vụ xuất sắc nhất (gồm 46 sản phẩm phần mềm và 10 dịch vụ CNTT) đã được Hội đồng nhất trí xếp hạng 4 sao và 5 sao, đồng thời được trao danh hiệu Sao Khuê 2011.



Ông Hồ Ngọc Thành – Phó TGĐ công ty EFFECT nhận Danh hiệu Sao khuê 2011Công ty EFFECT vinh dự đoạt Danh hiệu Sao khuê cho tất cả các dòng sản phẩm của công ty, từ nhóm sản phẩm phần mềm quản lý tổng thể doanh nghiệp là EFFECT-ERP, nhóm sản phẩm phần mềm kế toán customize là EFFECT-SQL 4.0; EFFECT-SQL 3.0; EFFECT 2.0, cho đến nhóm sản phẩm phần mềm kế toán đóng gói là EFFECT-SQL Standard, EFFECT-Standard, EFFECT-Small, EFFECT-HCSN, EFFECT-Training.



“Ngoài các công ty phần mềm tên tuổi đã có “thâm niên” với Sao Khuê như EFFECT, FPT, Tinh Vân, Peacesoft, CMC, Viettel, mùa bình chọn danh hiệu Sao Khuê năm nay còn có nhiều tên tuổi mới như công ty AG, RDSoft, Hoàn Hảo, OSP, ATO... Ông Hồ Ngọc Thành – Phó TGĐ công ty EFFECT nhận Danh hiệu Sao khuê 2011



TS.Trương Gia Bình, Chủ tịch Hội đồng bình chọn Sao Khuê 2011 đánh giá nhiều sản phẩm phần mềm thương mại tiêu biểu tham gia giải thưởng năm nay đã cho thấy xu hướng cải tiến mô hình kinh doanh sản phẩm, dịch vụ theo hướng bán sản phẩm trí tuệ, tách biệt giá sản phẩm trí tuệ với giá dịch vụ triển khai, bước đầu tạo hệ sinh thái cho sản phẩm và dịch vụ nội địa. Đặc biệt, nhiều giải pháp cũng được cung cấp theo xu hướng mới như điện toán đám mây...” (nguồn PC World)



Chương trình bình chọn Sao Khuê có ý nghĩa rất thiết thực hỗ trợ cho các sản phẩm dịch vụ phần mềm Việt Nam phát triển, góp phần xây dựng ngành công nghiệp phần mềm của Việt Nam ngày càng vững mạnh hơn.



Trong ngày 10/9, Hội nghị lãnh đạo CNTT – TT Việt Nam sẽ tiếp tục thảo luận chuyên đề về các nội dung then chốt cho tương lai phát triển của ngành CNTT – TT Việt Nam, đặc biệt là vấn đề đưa “CNTT - TT trở thành hạ tầng mềm để phát triển kinh tế xã hội”.



Fast Invoice được chứng nhận là phần mềm đạt tiêu chuẩn tự in hóa đơn theo NĐ 51

Ngày 11-5-2011, tại trụ sở Tổng cục thuế (TCT) đã diễn ra buổi công bố chứng nhận phần mềm đạt tiêu chuẩn theo NĐ 51 và lễ ký cam kết thỏa thuận cung cấp phần mềm tự in hóa đơn miễn phí.



Đại diện TCT có Ông Vũ Văn Trường - phó Tổng cục trưởng, TCT, Ông Phạm Văn Toàn - Cục phó Cục ứng dụng CNTT và các đại diện các vụ trực thuộc TCT.

Về phía doanh nghiệp có Đại diện Công ty Phần mềm Quản lý Doanh nghiệp FAST - Ông Lê Khắc Bình - Giám đốc điều hành cùng đại diện của 10 doanh nghiệp khác ký cam kết trong đợt này.



Tại buổi lễ, Ông Phạm Văn Toàn đã thông báo tên các nhà cung cấp vượt qua đợt thẩm định. Trong đó FAST là đơn vị đầu tiên trong đợt này.



Cũng trong buổi lễ, Ông Lê Khắc Bình đại diện cho công ty FAST đã ký cam kết với TCT về nội dung hỗ trợ triển khai phần mềm Fast Invoice tới cộng đồng doanh nghiệp.



Theo đó, từ ngày 1-6-2011 đến hết ngày 30-11-2011, FAST sẽ cung cấp miễn phí phần mềm Fast Invoice phục vụ doanh nghiệp tự in hóa đơn trên máy tính, đảm bảo đáp ứng các nội dung nghiệp vụ quy định tại Nghị định 51/2010/NĐ-CP và hướng dẫn thực hiện tại Thông tư 153/2010/TT-BTC, Thông tư 13/2011/TT-BTC.

Ngoài ra, FAST cũng sẽ cung cấp thêm các dịch vụ hỗ trợ miễn phí kèm theo như: hỗ trợ qua email, yahoo chat, Skype, diễn đàn cộng đồng người sử dụng phần mềm FAST, cung cấp các tài liệu và video hướng dẫn sử dụng…

Đừng xem nhẹ bộ máy kế toán doanh nghiệp



Nhiều hãng lớn của châu Âu như Orcale, Vodaphone đã quy định những nhà quản lý nếu chư¬a am hiểu về kế toán thì phải bổ sung kiến thức chuyên môn bằng cách tham dự các khóa học ngắn hạn do trư¬ờng đại học hoặc trung học kinh tế tổ chức. Thời gian học khoáng từ hai đến sáu tháng, sau đó có thể học tiếp lớp nâng cao hoặc tham khảo sách chuyên ngành.







Tai các công ty của Mỹ, giờ đây người ta coi rằng nhà quản lý doanh nghiệp hiểu biết về kế toán dĩ nhiên là không phải để tự mình làm lấy các công việc lập sổ sách mà là để kiểm tra lại tính chính xác của những thông tin đư¬ợc thuộc cấp báo cáo, phục vụ cho việc đều hành và ra quyết định hiệu quả trong công việc sản xuất kinh doanh.



Thông tin kế toán là rất cần thiết cho nhà quản trị đề ra các chiến lư¬ợc và quyết định kinh doanh. Do đó nếu thông tin kế toán sai lệch sẽ dẫn đến các quyết định của nhà quản trị không phù hợp, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn. Do vậy, một bộ máy kế toán mạnh, sổ sách kế toán rõ ràng, phân tích thấu đáo sẽ giúp cho ng¬ười điều hành đ¬ưa ra các quyết định kinh doanh đạt hiệu quả. Mặt khác sổ sách rõ ràng thì việc quyết toán về thuế đối với cơ quan chức năng sẽ mau lẹ, giúp tiết kiệm thời gian, tạo điều kiện tốt cho hoạt động sản xuất kinh doanh.



Tùy theo quy mô và lĩnh vực hoạt động, phòng kế toán có thể chia ra làm các bộ phận nh¬ư: kế toán công nợ và thanh toán, kế toán nguyên liệu vật t¬ư, kế toán giá thành, kế toán lổng hợp, kế toán quản trị...





Từng doanh nghiệp sẽ có các bộ máy kế toán khác nhau. Chẳng hạn công ty Famas của Anh hay một số công ty khác của châu Âu có xu hướng thuê các công ty kiểm toán thực hiện việc lập sổ sách, báo cáo hoặc thuê các nhân viên kế toán ở các công ty khác đến làm việc ngoài giờ. Cách này giúp các công ty Famas và các công ty khác tiết kiệm chi phí tiền lương cũng như¬ chi phí để duy trì hoạt động của phòng kế toán. Đây là một cách hay đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ.





Vậy tại sao các công ty cần xem trọng bộ máy kế toán?



Trong mỗi công ty, phần tài chính vận động trong nội tại, với chính phủ, với các doanh nghiệp với nhau. Tài chính doanh nghiệp biểu hiện sự vận động dich chuyển các luồn giá trị phục vụ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.



Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính gắng liền với viêc tạo lập và sự dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất của doanh nghiệp. Trong đó, bộ máy kế toán sẽ điều hành toàn bộ hoạt đông tài chính doanh nghiệp.





Vai trò của tài chính doanh nghiệp và bộ máy kế toán trong mỗi công ty là rất quan trọng, nó tồn tại và tuân theo quy luật khách quan, tài chính doanh nghiệp và bộ máy kế toán còn bị chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp.



Theo các chuyên gia tài chính của Oracle, tập đoàn viễn thông lớn của châu Âu thì bộ máy kế toán của Oracle nói riêng và của các công ty khác nói chung sẽ có tác dụng huy động khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh, tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả nhất của doanh nghiệp.



Bộ máy kế toán sẽ xác định đúng nhu cầu cần huy động vốn, lựa chọn nguồn tài trợ, lựa chọn phương tức đòn bẩy kinh doanh để huy động vốn, để nguồn vốn bảo toàn và phát triển, nâng cao thu nhập của công ty.



Vai trò kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh là vai trò quan trọng nhất của tài chính doanh nghiệp và bộ máy kế toán vì nó thực hiện được mục tiêu công cụ quản lý kinh doanh.

Một số vấn đề cần bàn đối với tài khoản ngoại bảng (loại 0)

Để thực hiện được vai trò trên, tài khoản và hệ thống tài khoản kế toán chính là công cụ thu thập những thông tin cần thiết từ các số liệu trên chứng từ kế toán và xử lý chúng để đáp ứng một cách đầy đủ theo nhu cầu của người sử dụng thông tin.

accounting-and-finance



Theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC, ngày 20/3/2006 của Bộ Tài Chính ban hành Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp, bao gồm các tài khoản từ loại 1 đến loại 9 và các tài khoản loại 0 (tài khoản ngoài Bảng cân đối kế toán).



Các tài khoản loại 0 dùng để phản ánh những tài sản hiện có ở doanh nghiệp nhưng không thuộc quyền sở hữu hoặc kiểm soát lâu dài của doanh nghiệp như: Tài sản thuê ngoài; Vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia công; Hàng hoá nhận bán hộ, nhận ký gửi. Đồng thời, loại tài khoản này còn phản ánh một số chỉ tiêu kinh tế đã được phản ánh ở các tài khoản trong Bảng cân đối kế toán, nhưng cần theo dõi để phục vụ yêu cầu quản lý như: Nợ khó đòi đã xử lý; Ngoại tệ các loại (chi tiết theo nguyên tệ); Dự toán chi sự nghiệp.



Tuy nhiên, việc ban hành và thực tế sử dụng một số tài khoản loại 0 hiện vẫn còn một số vấn đề cần trao đổi:



Thứ nhất, đối với Tài khoản 007 “Ngoại tệ các loại” được dùng để theo dõi chi tiết số hiện có và tình hình biến động từng loại ngoại tệ theo nguyên tệ.



Tuy nhiên, theo quy định hạch toán chi tiết, ngoại tệ của doanh nghiệp đã được theo dõi chi tiết trên các sổ chi tiết (tài khoản chi tiết) 1112, 1122, 1132 và tuỳ theo yêu cầu quản lý, tuỳ thuộc vào tình hình sử dụng các loại ngoại tệ tại doanh nghiệp mà kế toán có thể theo dõi chi tiết, cụ thể từng loại ngoại tệ trên tài khoản cấp 3 của những tài khoản cấp 2 nói trên.



Ngược lại, nếu không theo dõi chi tiết ngoại tệ trên các tài khoản cấp 3 mà chỉ theo dõi trên tài khoản 007 thì việc tổng hợp tình hình biến động về vốn bằng tiền ngoại tệ (quy đổi ra đồng Việt Nam) sẽ không thấy rõ được tình hình biến động về tỷ giá hối đoái khi hạch toán ngoại tệ theo giá thực tế.



Việc theo dõi, phản ánh trên các sổ chi tiết như đã trình bày ở trên đã cung cấp một cách khoa học và đầy đủ số liệu của từng loại ngoại tệ đáp ứng được yêu cầu của nhà quản lý. Từ những phân tích trên việc tồn tại Tài khoản 007 là không cần thiết, thậm chí việc tồn tại cả tài khoản 007 và các tài khoản cấp 3 của nhóm tài khoản vốn bằng tiền sẽ gây ra sự trùng lắp trong hạch toán.



Thứ hai, việc loại bỏ Tài khoản 009 “Nguồn vốn khấu hao cơ bản” so với Quyết định số 1141/TC/CĐKT ngày 01/11/1995 là không hợp lý vì tài khoản này dùng để phản ánh tình hình hình thành, tăng, giảm và sử dụng (đầu tư đổi mới TSCĐ, trả nợ vay đầu tư TSCĐ) nguồn vốn khấu hao ở doanh nghiệp. Tài khoản này cung cấp cụ thể số liệu liên quan đến khả năng thu hồi vốn của doanh nghiệp thông qua khấu hao TSCĐ và tình hình tái đầu tư, đổi mới TSCĐ của doanh nghiệp. Trong khi đó một số tài khoản có liên quan vẫn chưa cung cấp được các thông tin cần thiết, chẳng hạn:



- Tài khoản 411 “Nguồn vốn kinh doanh” dùng để phản ánh nguồn vốn kinh doanh hiện có và tình hình tăng, giảm nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Theo quy định, các doanh nghiệp phải tổ chức hạch toán chi tiết nguồn vốn kinh doanh theo từng nguồn hình thành vốn, trong đó cần theo dõi chi tiết cho từng tổ chức, từng cá nhân tham gia góp vốn, vốn ban đầu, vốn được bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh. Do đó, cả hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết nguồn vốn kinh doanh cũng vẫn chưa cung cấp được số liệu liên quan đến tình hình biến động của nguồn vốn khấu hao, chưa cung cấp được thông tin cần thiết phục vụ cho yêu cầu của chính nhà quản lý, điều hành doanh nghiệp và cho chủ sở hữu doanh nghiệp.



- Tài khoản 214 “Hao mòn tài sản cố định” dùng để phản ánh tình hình tăng, giảm giá trị hao mòn và giá trị hao mòn luỹ kế của các loại TSCĐ và bất động sản (BĐS) đầu tư trong quá trình sử dụng do tính khấu hao TSCĐ, BĐS đầu tư và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của TSCĐ, BĐS đầu tư. Vì thế, số liệu do tài khoản này cung cấp chỉ phản ánh tổng hợp giá trị hao mòn TSCĐ, BĐS đầu tư do tính trích khấu hao và kể cả giá trị hao mòn TSCĐ dùng cho hoạt động sự nghiệp, dự án hoặc dùng vào mục đích phúc lợi mà không thể cung cấp được các thông tin cần thiết như tài khoản 009 phản ánh.



- Hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết TSCĐ và BĐS đầu tư ở các tài khoản 211, 212, 213, 217 cũng không thể theo dõi được tình hình biến động và sử dụng nguồn vốn khấu hao.



Từ những nhận định trên, nếu không có tài khoản 009 sẽ không có số liệu về tình hình thu hồi vốn khấu hao, tình hình đổi mới, tái đầu tư TSCĐ để các nhà quản trị điều hành một cách hiệu quả hơn trong quá trình đầu tư và quản lý, bảo toàn và phát triển vốn của doanh nghiệp.



Tóm lại, việc tồn tại các tài khoản ngoài Bảng cân đối kế toán hợp lý sẽ góp phần rất lớn về chất lượng thông tin do kế toán cung cấp.



Các nguyên tắc tổ chức trong hệ thống kế toán ngân sách nhà nước

Trên thế giới có nhiều mô hình tổ chức bộ máy kế toán ngân sách nhà nước khác nhau phù hợp với đặc điểm và tập quán của từng quốc gia. Vì vậy, việc tổ chức hệ thống kế toán là xác định vị trí và trách nhiệm của các đối tượng tham gia vào việc chấp hành các nghiệp vụ tài chính nhà nước, là một trong những điểm then chốt nhất trong quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống kế toán ngân sách nhà nước hiện nay ở VN.





Đối với nguyên tắc bất kiêm nhiệm giữa người ra quyết định thực hiện nghiệp vụ tài chính nhà nước và người chấp hành quyết định đó có nhiều ưu điểm và có thể thực hiện được vì những lý do sau:



Một là: Về mặt kỹ thuật, nguyên tắc này cho phép việc phân công, chia sẻ công việc trong việc chấp hành nghiệp vụ tài chính và chính nhờ sự phân công ấy tạo nên hai tác nhân độc lập để có thể kiểm soát lẫn nhau trong quá trình thực hiện.



Hai là: Cơ quan ra quyết định sẽ không phải tổ chức công việc kế toán, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nên có thể tập trung và thực hiện công tác chuyên môn để lựa chọn quyết định chi tiêu hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm hơn.



Ba là: Cơ quan chuyên môn trong việc tổ chức hạch toán kế toán các nghiệp vụ kinh tế có trách nhiệm thực hiện thu, chi và phản ánh trung thực các nghiệp vụ tài chính theo yêu cầu của cơ quan ra quyết định; kiểm tra các quyết định tài chính trên cơ sở quy định của pháp luật tài chính hiện hành trước khi thực hiện quyết định đồng thời lập và cung cấp các báo cáo tài chính một cách khách quan cho các đơn vị sử dụng thông tin thu, chi ngân sách nhà nước.



Bốn là: Trong điều kiện thực tế của VN, do ý thức chấp hành luật pháp còn hạn chế, các chế tài kỷ luật trong lĩnh vực tài chính còn chưa nghiêm, tình trạng thực hiện chi tiêu và tập trung các khoản thu của ngân sách vượt ra ngoài khuôn khổ của chế độ, tiêu chuẩn, định mức cho phép còn diễn ra phổ biến thì việc tăng cường kiểm soát và quản lý tập trung vẫn là một yêu cầu mang tính nguyên tắc. Việc phân cấp tổ chức công tác kế toán đồng thời với chủ trương phân cấp quản lý, giao quyền nhiều hơn cùng với tăng cường trách nhiệm của các đơn vị sử dụng ngân sách theo xu hướng hiện nay mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý tài chính nói chung và trong công tác kế toán ngân sách nói riêng.



Thực tế hiện nay, về mặt tổ chức kế toán ngân sách khi phân cấp chúng ta áp dụng hình thức kế toán tập trung và kế toán phân tán thì có thể vẫn duy trì kế toán ở các đơn vị hành chính sự nghiệp song cán bộ và bộ máy kế toán ở các đơn vị nên độc lập với thủ trưởng của đơn vị nhưng trực thuộc cơ quan kế toán của Nhà nước (không phân cấp tổ chức). Chức năng kế toán này giao cho Kho bạc Nhà nước đảm nhiệm như hiện nay là hợp lý cả trên phương diện kiểm soát, thực hiện các nghiệp vụ tài chính nhà nước và phương diện về điều kiện vật chất để tổ chức hạch toán kế toán.



Ngoài ra, trong tổ chức bộ máy kế toán nhà nước là phân biệt kế toán của các cơ quan hành chính và kế toán của các đơn vị sự nghiệp. Đối với các cơ quan hành chính thuần túy, nguyên tắc này có thể thực hiện kể cả trong điều kiện phải phân cấp về mặt kỹ thuật. Riêng đối với các đơn vị sự nghiệp và nhất là các đơn vị sự nghiệp tự cân đối thu chi, có thể tách kế toán của các đơn vị này ra khỏi hệ thống kế toán nhà nước và có thể áp dụng như kế toán doanh nghiệp.



Nguyên tắc không kiêm nhiệm liên quan mật thiết đến tổ chức bộ máy kế toán nhà nước. Theo đó, việc bất kiêm nhiệm giữa người ra quyết định tài chính và kế toán sẽ dẫn đến việc hình thành một cơ quan kế toán tập trung, thống nhất. Lợi ích của kế toán tập trung thì có nhiều và với điều kiện thực tế của VN, kế toán tập trung sẽ là mô hình tổ chức kế toán mang tính nguyên tắc. Bên cạnh đó, cần phải thừa nhận việc Nhà nước ngày càng phân cấp và phân quyền quản lý tài chính sâu hơn, rộng hơn. Điều đó đòi hỏi kế toán nhà nước cần có những thay đổi trong tổ chức bộ máy. Kế toán các đơn vị hành chính thuần túy vẫn có thể thực hiện theo nguyên tắc kế toán tập trung và nguyên tắc bất kiêm nhiệm nhưng đối với các đơn vị sự nghiệp, việc tổ chức kế toán phân tán ở các đơn vị này sẽ ngày càng hình thành rõ nét cùng với xu thế phân cấp quản lý các dịch vụ công.



Chúng ta nên phân biệt và áp dụng hai nguyên tắc là kế toán ngân sách theo phương pháp tiền mặt và kế toán tài sản theo phương pháp dồn tích. Vấn đề này không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn liên quan chặt chẽ tới tổ chức hệ thống kế toán nhà nước.



Một là: Đối với kế toán ngân sách, mặc dù hiện nay việc phân cấp quản lý ngân sách nhà nước đã ngày càng mở rộng, song đặc điểm quản lý ngân sách nhà nước vẫn mang tính tập trung khá rõ nét. Điều này thể hiện ở việc chính quyền cấp trên vẫn nắm quyền kiểm soát và ảnh hưởng tới ngân sách chính quyền cấp dưới và cụ thể hơn là tính chất lồng ghép ngân sách đã được quy định trong Thông tư số 59/2004/TT-BTC hướng dẫn Nghị định số 60/2003/NĐ-TTg hướng dẫn chi tiết thi hành Luật ngân sách nhà nước.



Hiện nay, ngân sách lồng ghép như vậy nhưng nhu cầu thông tin về ngân sách ở mỗi cấp chính quyền lại khác nhau. Thường tại từng cấp ngân sách, nhu cầu thông tin đặt ra rất chi tiết nhưng ở cơ quan tài chính cấp trên, thông tin chi tiết về ngân sách cấp dưới không phải bao giờ cũng cần thiết. Đây là lý do cần kết hợp tổ chức kế toán tập trung và tổ chức kế toán phân tán trong phân hệ kế toán ngân sách. Cần xác định thông tin gì cần tập trung lên ngân sách cấp trên, thông tin gì chỉ mang tính quản lý, điều hành tại từng cấp ngân sách và thông tin gì cần cho các đơn vị sử dụng ngân sách.

Hai là: Đối với kế toán tài sản theo nguyên tắc dồn tích thì đây là loại kế toán có nhiệm vụ phản ánh đầy đủ tình hình tài sản nợ, tài sản có của một đơn vị kế toán; mặt khác mỗi đơn vị kế toán ra đời lại xuất phát từ yêu cầu phân cấp quản lý, vì thế việc tổ chức hệ thống kế toán này phải kết hợp được nhu cầu thông tin chung đáp ứng yêu cầu quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời phải đáp ứng được yêu cầu quản lý cụ thể của từng đơn vị kế toán

Chế độ kế toán Hành chính sự nghiệp & chuẩn mực kế toán công quốc tế

Hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) công quốc tế do Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFA) ban hành làm cơ sở cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính (BCTC) ở các đơn vị trực thuộc khu vực công. Theo đó, BCTC của từng đơn vị trong lĩnh vực công và BCTC hợp nhất của Chính phủ đối với các đơn vị thuộc lĩnh vực công đều phải lập và trình bày theo một khuôn mẫu thống nhẩt cho phù hợp với hệ thống CMKT công quốc tế. Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN) Việt Nam được xây dựng trên cơ sở Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) , Luật Kế toán và các chính sách tài chính áp dụng cho đơn vị HCSN vẫn còn nhiều điểm khác biệt so với hệ thống CMKT công quốc tế.



Thứ nhất , về hệ thống BCTC. Theo CMKT công quốc tế (IPSAS ) , các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công hàng năm phải lập BCTC là những đơn vị kinh tế có thể sử dụng kinh phí NSNN nhưng chịu sự kiểm soát của Chính phủ hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.Các đơn vị kinh tế thuộc lĩnh vực công phải lập BCTC theo IPSAS là các đơn vị hoạt động theo nguyên tắc tự cân đối thu chi . Chênh lệch gữa các khoản thu ( bao gồm cả kinh phí NS cấp ) đã sử dụng trong quá trình hoạt động là thặng dư hoặc thâm hụt thuần (doanh nghiệp gọi là lãi, lỗ) của đơn vị trong kỳ kế toán . Theo đó , IPSAS quy định các đơn vị thuộc lĩnh vực công hàng năm phải lập 4 BCTC để công khai là : Bảng cân đối kế toán để phản ánh tình hình tài chính ; Báo cáo kết quả hoạt động để phản ánh quá trình hoạt động và xác định thặng dư hoặc thâm hụt của đơn vị trong kỳ kế toán;Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ; Thuyết minh BCTC.



Còn ở Việt Nam, chế độ kế toán HCSN quy định , các đơn vị HCSN ( là đơn vị thụ hưởng NSNN chứ chưa phải là đơn vị kinh tế theo IPSAS và các đơn vị HCSN khác) phải lập 6 báo cáo. Đó là, bảng cân đối tài khoản (mẫu B01-H) thực chất là một phương pháp kiểm tra của kế toán.Bảng cân đối tài khoản không phản ánh được tình hình tài chính , thực trạng , tài sản , nguồn vốn của đơn vị như đối với bảng cân đối kế toán.Do vậy, người sử dụng thông tin không thấy được tài sản và nợ phải trả theo hai loại ngắn hạn và dài hạn cũng như cơ cấu tài sản , nguồn vốn (phân theo 2 loại nợ phải trả và VCSH )của đơn vị.Báo cáo “Tổng hợp tình hình kinh phí và quyết toán kinh phí đã sử dụng “ (Mẫu B02-H ) ; “Báo cáo thu, chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD”(Mẫu B03-H ) đế phản ánh tình hình hoạt động của đơn vị HCSN.



Theo qui định tại IPSAS , đơn vị thuộc lĩnh vực công phải lập báo cáo kết quả hoạt động để phản ánh thu, chi phát sinh trong quá trình hoạt động để xác định thặng dư hoặc thâm hụt thuần của đơn vị trong kì kế toán.Còn theo Chế độ kế toán HCSN , toàn bộ các khoản kinh phí đơn vị đã tiếp nhận và sử dụng trong kì kế toán được phản ánh riêng ở báo cáo B02-H.



Nếu thực hiện theo IPSAS , toàn bộ các khoản thu bao gồm cả số kinh phí đã tíêp nhận và các khoản chi bao gồm cả số kinh phí đã sử dụng phát sinh trong kỳ được phản ánh vào báo cáo kết quả hoạt động.Còn ở Việt Nam , toàn bộ các khoản thu , chi của đơn vị HCSN được phản ánh ở 2 báo cáo riêng biệt trong đó , kinh phí đã tiếp nhận và sử dụng phản ánh ở báo cáo B02-H; Các khoản thu , chi hoạt động sự nghiệp và hoạt động SXKD phản ánh ở báo cáo B03-H . Theo IPSAS , các đơn vị thuộc lĩnh vực công phải xác định thặng dư hoặc thâm hụt thuần trên cơ sở so sánh chênh lệch các khoản thu , chi phát sinh trong kỳ .Cũng theo IPSAS , các khoản thu chi phát sinh trong quá trình hoạt động cuả đơn vị được phản ánh theo nguyên tắc cơ sở dồn tích .Còn theo qui định của Chế độ kế toán HCSN , toàn bộ quá trình tiếp nhận và sử dụng kinh phí NSNN và các khoản thu , chi của hoạt động sự nghiệp được phản ánh về cơ bản theo nguyên tắc cơ sở tiền mặt , các khoản thu , chi của hoạt động SXKD được phản ánh theo nguyên tắc cơ sở dồn tích.

Có thể nói , chỉ các nước phát triển mới có khả năng áp dụng ngay IPSAS vì bộ chuẩn mực này được xây dựng trên cơ sở nền tài chính công ở các quốc gia phát triển ở mức độ cao, trong đó , quan hệ NSNN với các đơn vị SN được thực hiện theo đơn đặt hàng , hoạt động sự nghiệp của đơn vị này được coi là các dịch vụ công thực hiện theo đơn đặt hàng của Nhà nước và khi hoàn thành nghiệm thu sẽ được Nhà nước thanh toán.Các đơn vị thuộc lĩnh vực công ở các nước này là các đơn vị hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế , tự cân đối thu, chi.



Quy định cuả IPSAS cho khu vực công là hoàn toàn phù hợp với các nước có nền kinh tế phát triển , cũng như hệ thống CMKT quốc tế áp dụng cho khu vực tư nhân hoàn toàn phù hợp với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển ở mức độ cao với loại hình DN chủ yếu là công ty cổ phần niêm yết.Trong khu vực công , thể chế chính trị , quan hệ cấp phát , thanh toán giữa NSNN với các đơn vị thuộc lĩnh vực công và tài chính công giữa các quốc gia còn nhiều khác biệt.



Thực tế ở Việt Nam , hệ thống BCTC của đơn vị HCSN theo qui định hiện hành đã đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước , phù hơp với Luật NSNN và các chính sách quản lý tài chính đối với các đơn vị HCSN.Tuy nhiên , BCTC của đơn vị HCSN hiện nay mới chỉ là 1 bộ phận cấu thành để tổng hợp vào báo cáo quyết toán ngân sách nhằm phục vụ điều hành ngân sách của Quốc hội .BCTC của đơn vị HCSN hiện nay chưa phải là BCTC của 1 đơn vị kinh tế bị kiểm soát , phục vụ cho việc hợp nhất BCTC của Chính phủ để công khai nhằm cung cấp đầy đủ thông tin giúp cho tất cả công dân có thể kiểm tra , giám sát , đánh giá năng lực tài chính và kết quả hoạt động của quốc gia trong từng năm tài chính.



Trong hệ thống BCTC của đơn vị HCSN hiện nay chưa có Báo cáo lưu chuyển tiền tệ .Do đó , để thực hiện được IPSAS thì việc đầu tiên bắt buộc phải tiến hành , đó là các quy định về quản lý ngân sách và tài chính công phải được nghiên cứu , xem xét để ban hành cho phù hợp với thong lệ chung của các nước. Tiếp đó , Việt Nam cần phải nghiên cứu nắm vững IPSAS , học tập kinh nghiệm , cách làm các nước để nghiên cứu , ban hành Hệ thống CMKT công sao cho phù hợp với thể chế chính trị , tính chất nhà nước , với đặc điểm và yêu cầu quản lý kinh tế của Việt Nam.



Thứ hai , về đặc điểm đơn vị HCSN ở Việt Nam . Các đơn vị HCSN ở Việt Nam hiện đang thực hiện nhiều hoạt động SXKD và đầu tư tài chính dưới nhiều hình thức khác nhau, chưa được qui định đầy đủ , nên không có cơ sở để qui định về kế toán . Các hoạt động SXKD và đầu tư tài chính đang diễn ra ở các đơn vị HCSN chưa có hướng dẫn như: kế toán doanh thu cung cấp dịch vụ (đặc biệt là các dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ như dịch vụ KHKT… ) ; kế toán chi phí đi vay , hang tồn kho , thuê tài sản , các khoản dự phòng , công cụ tài chính.



Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quỳên tự chủ , tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ , tổ chức bộ máy , biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập quy định : Đơn vị HCSN của các hoạt động liên doanh, liên kểt cần thực hiện theo qui định Chuẩn mực số 07-Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết, Chuẩn mực 08 – Thông tin tài chính về các khoản vốn góp liên doanh ( ban hành theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ tài chính) là Chuẩn mực kế toán doanh nghiệp nên không phù hợp với CMKT số 07,08 hướng dẫn về hoạt động liên doanh , liên kết của IPSAS áp dụng cho khu vực công.



Từ việc quy định gượng ép như vậy nên các đơn vị HCSN thực hiện không thống nhất , các cơ quan nhà nước không có căn cứ xử lý khi kiểm tra , kiểm toán.Do vậy , trong thời gian sớm nhất , Việt Nam cần nghiên cứu , xây dựng để ban hành ngay 1 số Chuẩn mực kế toán công trên cơ sở IPSAS nhưng phù hợp với điều kiện của Việt Nam làm cơ sở pháp lý cho việc hướng dẫn kế toán như : Chuẩn mực kế toán hàng tồn kho , doanh thu bán hang và cung cấp dịch vụ , hơp đồng xấy dựng , thuê tài sản , chi phí đi vay , kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết , thông tin tài chính về các khoản vốn góp lien doanh.



Thứ ba , về lập báo cáo tài chính hợp nhất.Theo chuẩn mực kế toán công quốc tế , đơn vị kinh tế (đơn vị báo cáo )là một hoặc một nhóm đơn vị kiểm soát và một hoặc nhiều đơn vị bị kiểm soát : đơn vị kiểm soát phải lập BCTC hợp nhất của các đơn vị bị kiểm soát. Để lập BCTC hợp nhất , đơn vị kiểm soát phải xác định các đợn vị bị kiểm soát.Theo IPSAS , kiểm soát là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của đơn vị nhằm thu được lợi ích từ hoạt động của các đơn vị đó và đơn vị phải có quyền kiểm soát theo qui định của pháp luật hoặc theo những thoả thuận chính thức , như : Đơn vị có thẩm quyền quyết định thành lập và chi phối các chính sách tài chính và hoạt động ; có quyền giải thể , thu hồi , xử lý tài sản và có trách nhiệm về các khoản nợ phải trả của các đơn vị khi giải thể .



Như vậy theo IPSAS , chính phủ và từng Bộ , ngành , tỉnh , thành phố … đều là các đơn vị kinh tế , đều phải lập BCTC trên cơ sở hệ thống CMKT công . BCTC của Chính phủ theo IPSAS phải được hợp nhất từ BCTC của tất cả các đơn vị trung gian do Chính phủ kiểm soát , trong đó , bào gồm cả đơn vị được hoặc không được Nhà nước cấp kinh phí , vốn ; đơn vị có thể hoạt động độc lập không được Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc giải thể… Các đơn vị chịu sự kiểm soát của Chính phủ phải được hợp nhất vào BCTC của Chính phủ.



Trong xu thế hội nhập , các quốc gia phải lập BCTC hợp nhất cho toàn bộ lĩnh vực công theo khuôn mẫu thống nhất của IPSAS để phản ánh tình hình tài chính , kết quả hoạt động và xác định thặng dư , thâm hụt cho từng năm để có thể so sánh trên phạm vi toàn cầu theo 1 tiêu chí chung nhất . BCTC của từng quốc gia không phù hợp với CMKT công quốc tế thì không thể so sánh và khó có thể thừa nhận của quốc tế đối với quốc gia . Điều này không chỉ là sự cần thiết , yêu cầu của hoạt động kinh tế , đầu tư đa quốc ga mà quan trọng hơn là việc công bố các thông tin minh bạch sẽ tạo ra lợi thế cho các khoản đi vay , cho vay giữa các quốc gia và với các tổ chức quốc tế .



Tuy nhiên , ở Việt Nam , việc lập Báo cáo quyết toán NS để phục vụ điều hành ngân sách của Quốc hội đã quá quen thuộc , cong việc lập BCTC cho toàn bộ khu vực công theo hệ thống CMKT công còn quá xa lạ . Các khái niệm về khu vực công và sử dụng trong CMKT công còn quá xa lạ và phức tạp với Việt Nam .Như đơn vị kinh tế trong lĩnh vực công phải lập BCTC ; BCTC hợp nhất ; đơn vị kiểm soát ; đơn vị bị kiểm soát ; kiểm soát vì mục đích BCTC ; lợi ích và sở hữu của cổ đông thiểu số ; hoạt động liên doanh liên kết giữa các chính phủ của các nước ; hoạt động đầu tư , kể cả đầu tư của Nhà nước đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia.



Khoảng cách giữa chế độ Kế toán HCSN Việt Nam với CMKT công quốc tế là khá lớn.Do đó , ban hành CMKT công là việc cần phải làm ngay. Để làm được điều đó phải chuyển biến về nhận thức; phải đổi mới phương thức quản lý NSNN.



TS Hà Thị Ngọc Hà-Bộ Tài chính

Kế toán Nhà nước Việt Nam: Sự khác biệt với chuẩn mực quốc tế về kế toán công



Kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đòi hỏi kế toán nhà nước một mặt phải thừa nhận các nguyên tắ , thông lệ phổ biến của quốc tế, đồng thời, phải có mô hình quản lý phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam. Vì vậy, đòi hỏi những người soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam phải có nhận thức về sự khác biệt của kế toán nhà nước với kế toán công quốc tế để hài hoà giữa kế toán Nhà nước Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế . Điểm tương đồng với chuẩn mực kế toán quốc tế



Hệ thống chuẩn mực quốc tế về kế toán công đựơc xây dựng trên cơ sở hệ thống chuẩn mực kế toán (CMKT) trong lĩnh vực tư và được thực hiện trên cơ sở kế toán dồn tích . Việt Nam đã thực hiện cải cách hệ thống kế toán DN và hệ thống kế toán hành chính sự nghiệp (HCSN). Chế độ kế toán HCSN về cơ bản đã thực hiện dồn tích, trừ hạch toán ghi nhận TSCĐ, nguồn kinh phí. Mặt khác, Việt Nam cũng đã xây dựng được hệ thống CMKT DN dựa trên CMKT quốc tế trong lĩnh vực tư, do đó, việc tiếp cận kế toán nhà nước với CMKT công quốc tế là tương đối gần và có nhiều thuận tiện trên các mặt như con người, nhận thức, hệ thống pháp lý, cơ chế tài chính…



Sự khác biệt giữa kế toán khu vực nhà nước của Việt Nam với chuẩn mực kế toán công quốc tế



Về đối tượng áp dụng: Kế toán trong lĩnh vực nhà nước của Việt Nam (viết tắt là kế toán nhà nước) áp dụng cho: các đơn vị thu – chi NSNN; các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có sử dụng kinh phí NSNN; các đơn vị sự nghiệp tổ chức không sử dụng kinh phí NSNN; các quỹ tài chính của Nhà nước. Kế toán nhà nước Việt Nam không áp dụng cho DN nhà nước và các DN khác thuộc mọi thành phần kinh tế .



Trong khi, CMKT công quốc tế áp dụng cho các đơn vị thuộc chính quyền trung ương, các chính quỳên khu vực; chính quyền địa phương và các đơn vị trực thuộc các đơn vị này; các đơn vị cung cấp dịch vụ công được Nhà nước tài trợ thường xuyên. Nhà nước chịu trách nhiệm về tài sản công nợ khi phá sản. CMKT công không áp dụng cho DNNN, các đơn vị, tổ chức công không được tài trợ thường xuyên để duy trì hoạt động liên tục.



Về phạm vi hợp nhất BCTC của Chính phủ: Kế toán nhà nước Việt Nam quy định về việc lập báo cáo quyết toán NSNN nhưng chưa xác lập được nội dung, mẫu biểu và phương pháp hợp nhất BCTC Chính phủ. Còn theo CMKT công quốc tế, toàn bộ các đơn vị dưới sự kiểm soát của Chính phủ trong và ngoài nước hoặc đơn vị Chính phủ phải chịu trách nhiệm về tài sản và công nợ khi giải thể, phá sản đều được tổng hợp vào BCTC Chính phủ. Ngoài ra , tổng hợp lập báo cáo quyết toán chính quyền các cấp.



Về áp dụng cơ sở kế toán: Các đơn vị kế toán nhà nước Việt Nam đang áp dụng các cơ sở kế toán khác nhau . Đơn vị thu – chi ngân sách áp dụng cơ sở kế toán tiền mặt có điều chỉnh (đã theo dõi tạm ứng , nợ phải thu , nợ phải trả ); đơn vị HCSN áp dụng cơ sở kế toán dồn tích có điều chỉnh (đã hạch toán đầy đủ nợ phải thu ,nợ phải trả , tính hao mòn của TSCĐ nhưng chưa tính vào chi phí hoạt động trong kỳ kế toán ). Còn CMKT công quốc tế phân định rõ ràng 2 cơ sở kế toán: kế toán trên cơ sở tiền mặt ; kế toán trên cơ sở dồn tích.



Về hệ thống thông tin: Thông tin đầu vào của kế toán nhà nước Việt Nam do Chính phủ quy định cụ thể, chia làm 3 loại: lĩnh vực ngân sách ; lĩnh vực HCSN; lĩnh vực đặc thù. Còn theo CMKT công quốc tế , các mẫu thông tin đầu vào do Hội nghề nghiệp qui định.

Thông tin đầu ra của kế toán nhà nước Việt Nam mới chỉ dừng lại qui định việc lập BCTC ở cấp đơn vị và có tổng hợp BCTC theo từng cấp ngân sách nhằm phục vụ quyết toán kinh phí ở đơn vị. Toàn Chính phủ chưa có qui định BCTC hợp nhất. Hiện tại , mới chỉ có báo cáo thống kê tài sản toàn chính phủ và báo cáo ngân sách cho Quốc hội. CMKT công quốc tế qui định 2 loại báo cáo: BCTC của Chính phủ (báo cáo tổng hợp các đơn vị thuộc đơn vị thuộc sự kiểm soát của Chính phủ) và báo cáo ngân sách (lập theo yêu cầu của Quốc hội).



Những điểm khác biệt cụ thể



Về ghi nhận nguồn vốn: Chế độ kế toán HCSN của Việt Nam qui định số thu được ghi thẳng tăng nguồn vốn . Còn CMKT công quốc tế qui định phải bù trừ giữa thu và chi , số chênh lệch mới được ghi tăng nguồn vốn.



Về danh mục BCTC: Kế toán nhà nước Việt Nam qui định : đơn vị thu – chi ngân sách phải lập 28 báo cáo, đơn vị HCSN phải lập 6 báo cáo và 4 phụ biểu , các đơn vị đặc thù còn có thêm các báo cáo đặc thù của ngành.



CMKT công quốc tế qui định kế toán trên cơ sở tiền mặt lập 1 báo cáo thu – chi tiền mặt, kế toán trên cơ sở dồn tích lập 5 báo cáo (Báo cáo tình hình tài chính của đơn vị ; Báo cáo kết quả hoạt động; Báo cáo sự thay đổi về tài sản thuần / Vốn chủ sở hữu ; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Chính sách kế toán và giải trình BCTC)



Về hàng tồn kho : Kế toán nhà nước Việt Nam quy định cuối năm , nguyên vật liệu , công cụ , dụng cụ đa mua chưa sử dụng hết cũng được tính hết vào chi trong kỳ và được quyết toán .



CMKT công quốc tế (IPSAS 12) lại quy định giá trị hàng tồn kho chỉ được ghi nhận vào chi phí trong kỳ cho phù hợp với doanh thu được ghi nhận.



Về giá trị XDCB dở dang , sửa chữa lớn hoàn thành: Kế toán trong lĩnh vực Nhà nước của Việt Nam qui định cuối năm được tính vào chi và quyết toán ngay trong kỳ , còn CMKT công quốc tế (IPSAS 11) qui định chi phí được công nhận lá chi trong kỳ phù hợp với khối lượng hoàn thành.



Về tài sản cố định: Theo kế toán Nhà nước của Việt Nam, khi mua sắm TSCĐ, tính toán toàn bộ giá trị tài sản vào số chi trong kỳ, hàng năm tính hao mòn TSCĐ, ghi giảm nguồn hình thành TSCĐ mà chưa thực hiện khấu hao TSCĐ vào chi phí trong kỳ đảm bảo phù hợp với doanh thu và chi phí. Kế toán nhà nước Việt Nam qui định tiêu chuẩn TSCĐ hữu hình, vô hình, hướng dẫn phương pháp kế toán tăng, giảm, hao mòn, khấu hao, sửa chữa nhưng chưa hạch toán thiết bị quân sự, tài sản là di sản.



Trong khi đó, CMKT công quốc tế (IPSAS 17) qui định số khấu hao mỗi kỳ được ghi nhận là chi phí; phân chia tài sản phi tài chính là bất động sản, nhà xưởng, thiết bị; kế toán cả phần thiết bị quân sự chuyên dụng, cơ sở hạ tầng và không hướng dẫn kế toán tài sản là di sản.



Về tỉ giá hối đoái và xử lý chênh lệch tỷ gía hối đoái: Kế toán Nhà nước Việt Nam qui định các khoản thu chi ngân sách bằng ngoại tệ được qui đổi theo tỷ giá do Bộ Tài chính công bố. Chênh lệch tỷ giá được ghi tăng chi hoặc ghi giảm chi trong kỳ.



Còn CMKT công quốc tế (IPSAS 9) qui định tỷ giá hối đoái được ghi nhận theo tỷ giá tại thời điểm phát sinh giao dịch thường được coi là tỷ giá giao ngay. Chênh lệch tỷ giá được ghi nhận là khoản thu hoặc chi phí trong kỳ phát sinh.



Về bất động sản đầu tư , nợ tiềm tàng , công cụ tài chính: Kế toán nhà nước Việt Nam chưa có cơ chế tài chính cụ thể nên chưa có hướng dẫn hạch toán đối với bất động sản đầu tư , nợ tiềm tàng , các công cụ tài chính…



Còn CMKT công quốc tế qui định và hướng dẫn rõ cách xử lý và hạch toán kế toán trong từng trường hợp (bất động sản đầu tư , nợ tiềm tàng , các công cụ tài chính…)



Về giao dịch: Trong kế toán Nhà nước Việt Nam, kế toán thu – chi ngân sách qui định giao dịch một chiều: Kế toán HCSN qui định giao dịch một chiều với thu, chi liên quan đến ngân sách; hai chiều đối với hoạt động dịch vụ. Trong hệ thống CMKT công quốc tế, mới chỉ có CM cho các giao dịch trao đổi mà chưa có chuẩn mực cho các giao dịch một chiều.



Về qui định kế toán trong nền kinh tế siêu lạm phát và các khoản dự phòng , nợ phải trả tiềm tàng: Trong khi CMKT công quốc tế (IPSAS 10) đã có hướng dẫn cụ thể, thì kế toán nhà nước Việt Nam chưa qui định các khoản dự phòng, các khoản nợ phải trả tiềm tàng.



Về chi phí đi vay: Kế toán trong lĩnh vực nhà nước của Việt Nam qui định chi phí đi vay hạch toán là khoản chi ngân sách, chi hoạt động chưa được vốn hoá. Còn CMKT công quốc tế hướng dẫn hạch toán chi phí đi vay, phương pháp vốn hoá chi phí vay liên quan đến mua tài sản , xây dựng hoặc sản xuất tài sản.



Về thặng dư, thâm hụt: Kế toán Nhà nước Việt Nam qui định thu – chi ngân sách xác định tồn quỹ ngân sách trong đó có tính cả các khoản đi vay (trừ khoản vay cho vay lại ) và các khoản thu, chi chuyển nguồn, chuyển niên độ ngân sách; đơn vị HCSN tính chênh lệch thu, chi hoạt động do tiết kiệm kinh phí và chênh lệch hoạt động kinh doanh dịch vụ để bổ sung nguồn kinh phí, tăng thu nhập, trích lập các quỹ.



Trong khi đó, theo CMKT công quốc tế, thu – chi ngân sách xác định thặng dư, thâm hụt theo thu, chi ngân sách các khoản đi vay hạch toán riêng bù đắp bội chi; đơn vị dịch vụ công được nhà nước tài trợ thường xuyên tính thặng dư thâm hụt hoạt động thông thường, thặng dư thâm hụt hoạt động bất thường.



Tiến tới hài hoà với các CMKT công quốc tế



Để tiến tới sự hài hoà giữa kế toán Nhà nước Việt Nam và CMKT công quốc tế, phù hợp với xu thế hội nhập và phát triển của Việt Nam thì cần thiết phải xây dựng 1 hệ thống CMKT công của Việt Nam, trên cơ sở chuẩn mực kế toán công quốc tế phù hợp với đặc thù của Việt Nam. Để làm được đìêu đó, phải thực hiện các bước sau:



- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất sửa đổi, bổ sung cơ chế tài chính công và kế toán nhà nước phù hợp với CMKT công quốc tế.



Cần đánh giá thực trạng kế toán nhà nước Việt Nam, từ đó, chỉ ra những vấn đề sửa đổi cơ chế tài chính công và những vướng mắc, bất hợp lý so với CMKT công quốc tế.



- Tổ chức biên dịch, nghiên cứu CMKT công quốc tế.



- Xác định hướng và lộ trình áp dụng CMKT công quốc tế để xây dựng hệ thống CMKT nhà nước Việt Nam .



- Sửa đổi, bổ sung cơ chế tài chính công phù hợp với CMKT công quốc tế .

Kế toán nhà nước của Việt Nam chịu sự chi phối bởi Luật Ngân sách và các văn bản qui định cơ chế tài chính cho các đơn vị thuộc lĩnh vực công . Còn đỉêm khác bịêt giữa các qui định của Luật Ngân sách với các qui định của CM công. Vì vậy , để có thể vận dụng được chuẩn mực công quốc tế đòi hỏi phải có sửa đổi , bổ sung.



- Nghiên cứu, xây dựng hệ thống CMKT công của Việt Nam.



- Triển khai áp dụng các CMKT công của Việt Nam.

Căn cứ vào hệ thống chuẩn mực kế toán công quốc gia, cần có các qui định cụ thể cho các đơn vị trong lĩnh vực công thực hiện. Cần tiến hành các bước :

+ Xây dựng hoàn chỉnh CĐKT nhà nước.

+ Xây dựng quy trình nghiệp vụ phù hợp với định hướng phát triển.

+ Kiểm tra, triển khai thực hiện.



PGS.TS Phạm Văn Đăng- Bộ Tài chính

Kế tóan quản trị: Từ lý luận đến thực tiễn

Đối tượng của kế toán là tài sản và sự vận động của tài sản. Ở mức độ khái quát nhất thì đó là tài sản lưu động, tài sản cố định. Ở mức độ chi tiết hơn thì đó là các loại tài sản : tiền, nợ phải thu, các khoản đầu tư, hàng tồn kho, tài sản cố định, v.v…. Ở mức độ chi tiết hơn nữa là: tiền gì ? ở đâu ? nợ phải thu ở đối tượng nào? trong hạn thanh toán hay quá hạn? khoản đầu tư vào đối tượng nào? hiệu quả đầu tư ra sao? cụ thể từng thứ hàng tồn kho ở mức độ nào, chất lượng như thế nào? phù hợp vơi mục đích kinh doanh hay không? v.v… Cứ như vậy, tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý cụ thể mà chi tiết hơn nữa các đối tượng kế toán, nhằm cung cấp các thông tin phục vụ cho hoạt động quản lý và điều hành tổ chức.



Để thực hiện việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình kinh tế tài chính, kế toán sử dụng các phương pháp:



- Lập chứng từ để thu nhận thông tin.



- Đánh giá để làm cơ sở cho việc ghi sổ, tổng hợp số liệu theo chỉ tiêu giá trị.



- Sử dụng tài khoản để tổng hợp số liệu, theo chỉ tiêu giá trị.



- Ghi sổ kép nhằm phản ánh tài sản theo hai khía cạnh: Hình thức tồn tại và nguồn hình thành.



- Kiểm kê nhằm xác định chính xác số lượng tài sản hiện có.



- Lập báo cáo nhằm cung cấp thông tin.



Những phương pháp này được hình thành trên cơ sở các yêu cầu của kế toán: phản ánh chính xác, phản ánh trung thực, phản ánh kịp thời và các yêu cầu cụ thể khác. Những yêu cầu này lại chính là do nhu cầu sử dụng thông tin đặt ra.



Xét theo đối tượng sử dụng thông tin thì nhu cầu sử dụng thông tin gồm: Nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp và các đối tượng bên trong doanh nghiệp. Mục dích sử dụng thông tin của các đối tượng này có khác nhau, nên nhu cầu thông tin của các đối tượng này cũng khác nhau.



Các đối tượng bên ngoài sử dụng các thông tin để phục vụ cho việc ra các quyết định liên quan đến mối quan hệ kinh tế, giữa doanh nghiệp và các đối tượng này hoặc là phục vụ cho mục tiêu quản lý kinh tế của Nhà nước.



Các đối tượng bên trong doanh nghiệp thì sử dụng các thông tin này phục vụ cho hoạt động quản lý và điều hành doanh nghiệp. Nhu cầu thông tin khác nhau sẽ quy định những nội dung thông tin khác nhau. Những nội dung thông tin có thể được cung cấp bởi những kênh thông tin khác nhau . Nhưng nếu những thông tin được cung cấp từ một kênh thì phải có tính thống nhất, tính hệ thống nghĩa là đối chiếu được và cần thiết phải đối chiếu, nhằm tăng cường tính chính xác, tính trung thực của thông tin.



Kênh thông tin kế toán cung cấp những thông tin về tình hình kinh tế tài chính của doanh nghiệp cho các đối tượng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, thì các thông tin này phải có chung điểm xuất phát là hệ thống chứng từ ban đầu. Nhưng có sự khác nhau về xử lý thông tin thu thập được từ chứng từ ban đầu để cho ra các thông tin với nội dung phù hợp nhu cầu thông tin.



Điều này có nghĩa là phương pháp sử dụng trước hết là phương pháp kế toán, sau đó là kết hợp các phương pháp khác để có thể xử lý thông tin, đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin cụ thể khác nhau.



Từ những phân tích trên cho thấy:



Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống kế toán doanh nghiệp.



Đối tượng của kế toán quản trị cũng là tài sản và sự vận động của tài sản trong qúa trình sản xuất kinh doanh.



Mục tiêu của kế toán quản trị là cung cấp thông tin, đáp ứng yêu cầu quản lý cụ thể trong nội bộ doanh nghiệp.



Phạm vi của kế toán quản trị là :



Hạch toán kế toán trên TK cấp 2, 3,4… và sổ chi tiết, đồng thời hạch toán nghiệp vụ trên sổ chi tiết.







Phương pháp tiến hành Phương pháp để tiến hành kế toán quản trị gồm :



1. Phương pháp lập chứng từ : Chứng từ là giấy tờ chứng minh sự phát sinh,hoặc hoàn thành nghiệp vụ kinh tế. Chứng từ được lập phục vụ cho cả kế toán tài chính và kế toán quản trị. Do vậy ngoài những nội dung cơ bản của chứng từ để phục vụ yêu cầu kế toán tổng hợp trên TK cấp 1,cấp 2 (những nội dung này đã được quy định trong hệ thống chứng từ do nhà nước ban hành), kế toán còn phải căn cứ vào yêu cầu kế toán chi tiết trên TK cấp 3, 4 v.v… và sổ chi tiết để quy định thêm các nội dung ghi chép trên chứng từ để phục vụ yêu cầu này. Chứng từ sau khi lập được chuyển cho bộ phận kế toán tài chính và kế toán quản trị (mỗi bộ phận một liên ) để làm căn cứ hạch toán.



2. Phương pháp đánh giá: Là dùng tiền biểu hiện giá trị tài sản. Nguyên tắc đánh giá của kế toán tài chính là : giá gốc (giá thực tế ). Trong kế toán quản trị, tài sản cũng được đánh giá theo giá gốc,để đối chiếu số liệu giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị.Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin nhanh phục vụ yêu cầu quản lý tức thời, cần thiết phải sử dụng giá ước tính (giá hạch toán ) trong kế toán quản trị



3. Phương pháp tài khoản là phương pháp tập hợp hệ thống hoá nghiệp vụ kinh tế theo nội dung kinh tế của nghiệp vụ nhằm phản ánh và giám đốc thường xuyên từng đối tượng kế toán. Trong kế toán quản trị các TK được sử dụng để theo dõi từng đối tượng của kế toán quản trị, đây là đối tượng của kế toán tài chính được chi tiết hoá, theo yêu cầu cung cấp thông tin của nhà quản lý doanh nghiệp.



4. Phương pháp ghi sổ kép là cách ghi nghiệp vụ kinh tế vào TK kế toán, thể hiện được mối quan hệ giữa các đối tượng kế toán.



5. Phương pháp tính giá thành : Là phương pháp xác định chi phí trong một khối lượng sản phẩm hoặc dịch vụ đã hoàn thành sản xuất. Trong kế toán quản trị việc tính giá thành được tiến hành theo yêu cầu hạch toán nội bộ.



6. Phương pháp lập báo cáo nội bộ theo yêu cầu cung cấp thông tin của các nhà quản lý doanh nghiệp theo các cấp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp.



7. Phương pháp đồ thị để phục vụ cho việc ra các quyết định, lập phương án kinh doanh.



Như vậy phương pháp kế toán quản trị cũng là phương pháp kế toán nói chung, nhưng có các đặc điểm riêng để phù hợp với tính chất thông tin của kế toán quản trị, đó là :



-Tính đặc thù nội bộ của các sự kiện.



-Tính linh hoạt, tính thích ứng với sự biến biến đổi hàng ngày của các sư kiện.



-Tính chất phi tiền tệ được chú trọng nhiều hơn trong các chỉ tiêu báo cáo.



-Tính dự báo ( phục vụ việc lập kế hoạch ).



-Tính pháp lý đối với tài liệu gốc và tính hướng dẫn ở thông tin trên báo cáo quản trị.



-Không có tính chuẩn mực chung.



Trên cơ sở mục tiêu và yêu cầu quản lý của nhà quản trị doanh nghiệp, để xác định nội dung kế toán quản trị trong từng doanh nghiệp cụ thể.



Nội dung này mang tính đặc thù của từng doanh nghiệp, nhưng có thể khái quát thành các nội dung sau :



° Kế toán chi tiết tài sản cố định: Gồm việc hạch toán về số lượng, giá trị, các thông số kỹ thuật, thời gian khấu hao, mức khấu hao, sự biến động về số lượng, về giá trị do nhượng bán, do thanh lý, do chuyển nội bộ, do điều chuyển theo lệnh cấp trên v.v…



° Kế toán chi tiết vật tư , hàng hoá, thành phẩm : Gồm việc hạch toán theo số lượng và giá trị của từng thứ, từng nhóm, theo từng kho (nơi quản lý ).



° Kế toán chi tiết nợ phải thu, nợ phải trả theo từng đối tượng nợ, từng nghiệp vụ phát sinh nợ và thanh toán nợ, theo dõi kỳ hạn thanh toán nợ, hạch toán chi tiết khoản nợ bằng ngoại tệ và bằng đồng Việt Nam.



° Kế toán chi phí phát sinh theo từng đối tượng hạch toán, theo nội dung kinh tế, theo khoản mục giá thành. Xác định giá thành sản xuất cho các đối tượng tính giá thành.



° Kế toán chi tiết nguồn vốn kinh doanh theo các đối tượng góp vốn.



° Kế toán chi phí và thu nhập theo từng bộ phận trong doanh nghiệp, theo yêu cầu hạch toán nội bộ.



° Lập các báo cáo nội bộ theo định kỳ (do các nhà quản lý doanh nghiệp quy định và báo cáo nhanh theo yêu cầu đột xuất để phục vụ yêu cầu ra quyết định của các nhà quản lý trong doanh nghiệp.



° Thu thập và xử lý thông tin để phục vụ yêu cầu ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn.



° Lập dự toán để phục vụ chức năng giám sát quá trình sản xuất kinh doanh.



Những nội dung trên đã bao gồm nội dung kế toán chi tiết mà lâu nay hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam đã thực hiện, nhưng ở mức độ ghi nhận sự kiện, chưa tổng hợp thành các thông tin phục vụ yêu cầu quản lý.



Ngoài ra còn những nội dung mang tính tài chính để phục vụ yêu cầu lập kế hoạch thì hầu như chưa thực hiện. Điều này chấp nhận được với một nền kinh tế mang tính bao cấp, trong đó tính chủ động không nhiều, tính dự báo không phải là yêu cầu cấp thiết.



Trong nền kinh tế thị trường, nền kinh tế mở, doanh nghiệp hoạt động trong môi trường đầy phức tạp, nhiều biến động, nhiều rủi ro. Doanh nghiệp phải chủ động trong kinh doanh, phải tự quyết định các vấn đề kinh tế tài chính có liên quan đến sự tồn tại của doanh nghiệp, do đó thông tin để làm cơ sở cho các quyết định phải là thông tin nhiều mặt, thông tin hữu ích. Những thông tin này không chỉ trong khuôn khổ hạch toán kế toán, mà nó còn mang tính hạch toán thống kê, hạch toán nghiệp vụ và không loại trừ các chỉ tiêu tài chính, bởi vì kế toán và tài chính luôn có các quan hệ mật thiết trong các sự kiện kinh tế. Loại thông tin này chỉ được cung cấp bởi bộ phận kế toán quản trị trong doanh nghiệp.



Như vậy kế toán quản trị không chỉ là kế toán chi tiết mà là kế toán chi tiết và phân tích phục vụ yêu cầu quản trị doanh nghiệp. Trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, phần kế toán tài chính là phần được chú trọng duy nhất, mặc dù các yêu cầu về cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý luôn được đặt ra.



Có tình trạng này là do : Hệ thống kế toán doanh nghiệp vốn vận hành theo chế độ kế toán thống nhất, do Nhà nước ban hành, mà chế độ kế toán hiện nay mới chỉ cập nhật đến nội dung kế toán tài chính (trong đó bao gồm kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết ở một số đối tượng ). Cho nên các doanh nghiệp đã không tự tìm đến hệ thống kế toán nào khác ngoài hệ thống kế toán tài chính.



Để hệ thống kế toán quản trị được áp dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam, vận hành đồng thời với hệ thống kế toán tài chính, cần phải có sự hướng dẫn, sự tác động từ phía Nhà nước.



Tuy nhiên kế toán quản trị xuất phát từ mục tiêu quản lý doanh nghiệp, mang tính đặc thù của loại hình hoạt động, nên không thể mang tính bắt buộc thống nhất trong các loại hình doanh nghiệp. Về phía doanh nghiệp, là chủ thể hành động, cần phải nhận thức rõ sự cần thiết của kế toán quản trị, phân biệt phạm vi kế toán quản trị, nội dung kế toán quản trị, phương pháp tiến hành kế toán quản trị, để tổ chức bộ máy tiến hành công tác kế toán quản trị, tổ chức sổ, xây dựng hệ thống báo cáo







Chức năng của kế toán quản trị



Trước hết phải xuất phát từ mong muốn của nhà quản lý các cấp trong nội bộ doanh nghiệp để đặt ra các yêu cầu thông tin cụ thể cho mọi lĩnh vực gắn với các chức năng quản lý (Chức năng lập kế hoạch,chức năng kiểm tra, chức năng tổ chức và điều hành, chức năng ra quyết định).



- Đối với chức năng lập kế hoạch. Kế toán quản trị phải cung cấp các chỉ tiêu về số lượng và giá trị phù hợp với chỉ tiêu kế hoạch. Các chỉ tiêu này vừa có tính quá khứ, vừa có tính dự báo.



-Đối với chức năng kiểm tra. Kế toán quản trị cung cấp các thông tin theo mục tiêu quản lý đặt ra. Các thông tin này được hình thành trên cơ sở tổ chức hạch toán chi tiết, bằng phương pháp kế toán và bằng phương pháp phân tích đồ thị biểu diễn các thông tin do kế toán và các nghành khác cung cấp.



-Đối với chức năng điều hành, kế toán quản trị cung cấp thông tin về các chỉ tiêu hoạt động chủ yếu bằng chỉ tiêu phi tiền tệ, trên các báo cáo nhanh. Để có các thông tin này. Phần lớn các chứng từ phục vụ cho kế toán quản trị có cùng nguồn gốc với kế toán tài chính, nhưng do mục đích cung cấp thông tin khác nhau, nên mức độ xử lý chứng từ có khác nhau.







Do vậy trên cùng một hệ thống chứng từ kế toán, chỉ cần thêm vào các nội dung chi tiết để phục vụ hạch toán chi tiết theo yêu cầu của kế toán quản trị. Mặt khác cũng cần thiết số liệu từ nguồn khác. Ví dụ : Số liệu về thống kê thị phần các mặt hàng trên thị trường, số liệu thống kê về lao động,về thị trường lao động.v.v…







Báo cáo quản trị



Từ những nội dung thông tin cụ thể để thiết kế các báo cáo quản trị, quy định trách nhiệm và định kỳ lập các báo cáo quản trị do bộ phận kế toán quản trị lập bao gồm :



1. Báo cáo về vốn bằng tiền : tiền mặt tại quỹ theo từng loại tiền, tiền gửi theo từng TK ngân hàng theo từng loại tiền (VNĐ, ngoại tệ các loại)



2. Báo cáo về công nợ : Các khoản nợ phải thu, nợ phải trả, phân loại theo kỳ hạn thanh toán (trong hạn thanh toán, quá hạn thanh toán.v.v…)



3. Báo cáo về chi phí và giá thành sản xuất : báo cáo chi phí theo từng nội dung kinh tế, báo cáo chi phí theo từng bộ phận, báo cáo giá thành thực tế theo đối tượng tính giá thành theo khoản mục (nếu lập giá thành kế hoạch theo khoản mục ), theo yếu tố (nếu lập giá thành kế hoạch theo yếu tố ). Ngoài việc tính giá thành thực tế, còn có thể cần phải tính giá thành thực tế kết hợp với dự toán để cung cấp thông tin kịp thời phục vụ việc định giá bán sản phẩm hoặc ký hợp đồng sản xuất, hợp đồng cung cấp dịch vụ. Trong trường hợp này các báo cáo giá thành được thể hiện bằng phiếu tính giá thành. Phiếu tính giá thành được thiết kế trên cơ sở phương pháp tính giá thành đã lựa chọn.



4. Báo cáo doanh thu, chi phí và kết quả theo từng bộ phận. Tuỳ theo từng cấp quản lý mà thiết kế nội dung báo cáo cho thích hợp với sự phân cấp trong trách nhiệm quản lý cho bộ phận đó. Ví dụ : Với từng tổ sản xuất thì trách nhiệm quản lý là các chi phí trực tiếp sản xuất, với phân xưởng sản xuất thì trách nhiệm quản lý là chi phí trực tiếp sản xuất và chi phí chung ở phân xưởng sản xuất, đối với từng loại sản phẩm, loại hoạt động trong doanh nghiệp thì trách nhiệm quản lý là chi phí, thu nhập và kết quả của từng loại sản phẩm, loại hoạt động đó v.v…







Nhằm phục vụ cho việc lập các báo cáo quản trị, cần phải tổ chức sổ kế toán để ghi chép theo mục tiêu kế toán quản trị : Cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý nội bộ doanh nghiệp.



Sổ kế toán quản trị gồm:



1. Các sổ chi tiết theo đối tượng kế toán cần chi tiết ở mức độ cao nhất mà không thể mở TK chi tiết. Ví dụ : các đối tượng là TSCĐ, hàng tồn kho, công nợ v.v…Việc ghi chép trên các sổ chi tiết này theo chỉ tiêu tiền tệ và phi tiền tệ. Chỉ tiêu tiền tệ được tổng hợp lại để đối chiếu với phần kế toán tổng hợp thuộc kế toán tài chính. Trong sổ chi tiết có thể sử dụng chỉ tiêu tiền tệ theo giá ước tính để phục vụ cho việc cung cấp thông tin nhanh, cuối kỳ sẽ điều chỉnh về chỉ tiêu giá thực tế để đối chiếu.



2. Các sổ TK cấp 3, cấp 4 v.v …sử dụng trong trường hợp các đối tượng kế toán có yêu cầu chi tiết không cao.



3. Các bảng tính,các biểu đồ, sử dụng trong trường hợp cần phải tính toán các chỉ tiêu, biểu diễn các chỉ tiêu, phục vụ cho việc khảo sát các tình huống để làm căn cứ cho việc ra các quyết định ngắn hạn, dài hạn.



Kiến nghị



Ngày nay nền kinh tế Việt Nam đang chuyển động để vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường. Hệ thống kế toán Việt Nam đang được chuyển đổi phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường, thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế. Việc xác định rõ phạm vi kế toán quản trị là vấn đề cần thiết để làm cơ sở cho việc tổ chức công tác kế toán quản trị và hoàn thiện nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp. Nhà nước cần tham gia vào việc xây dựng hệ thống kế toán quản trị với tư cách là người hướng dẫn, không can thiệp sâu vào công tác kế toán quản trị,nhưng cũng không nên thả nổi vấn đề này, bởi vì nhà nước Việt Nam có chức năng quản lý nền kinh tế ở tầm vĩ mô.



Để thực hiện yêu cầu này, nhà nước cần phải làm một số công việc sau:



1. Hoàn thiện về lý luận kế toán quản trị ở Việt Nam, bao gồm các nội dung:



- Xác định rõ phạm vi kế toán quản trị và nội dung kế toán quản trị trong doanh nghiệp.



- Xác lập mô hình kế toán quản trị cho các loại hình doanh nghiệp: công nghiệp, xây dựng cơ bản, thương mại, giao thông, bưu điện v.v…



- Xác lập mô hình kế toán quản trị theo từng quy mô : Doanh nghiệp quy mô lớn, doanh nghiệp quy mô trung bình, doanh nghiệp quy mô nhỏ.



2. Hướng dẫn, định hướng kế toán quản trị đối với các doanh nghiệp, tập trung vào một số nội dung:



- Phân loại chi phí.



- Số lượng,nội dung khoản mục giá thành sản phẩm dịch vụ.



- Xác định các trung tâm chi phí, theo từng ngành khác nhau.



- Yêu cầu hạch toán chi tiết về thu nhập.



- Các phương pháp tập hợp chi phí theo đối tượng hạch toán.



- Các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang.



- Các phương pháp tính giá thành.



- Các loại dự toán.



- Các loại báo cáo quản trị.



- Các chỉ tiêu phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp.



- Các loại sổ chi tiết, thẻ chi tiết. v.v…



Kế toán quản trị mang đậm tính đặc thù, là vấn đề mang màu sắc chi tiết, gắn với từng doanh nghiệp cụ thể, do đó không thể có quy định thống nhất về nội dung kế toán quản trị cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên rất cần sự hướng dẫn, định hướng của Nhà nước như trên, để kế toán quản trị có thể dễ dàng đi vào thực tế, và thực sự được thừa nhận như một tất yếu không thể hòa tan vào kế toán tài chính